vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hà Thị X và anh Hoàng Văn Ch là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Chị X và anh Ch có 04 người con chung là Hoàng Thị S, sinh năm 1994, Hoàng Thị Hoa B, sinh năm 1996, Hoàng Thị M, sinh năm 1999 và Hoàng Đức T, sinh năm 2022. Hiện nay, con chung đều đã trưởng thành, tự lao động nuôi được bản thân nên chị X và anh Ch không yêu cầu giải quyết về nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị Hà Thị X và anh Hoàng Văn Ch"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hà Thị X và anh Hoàng Văn Ch là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 32/2022/HNGĐ – ST
Ngày 15 tháng 12 năm 2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Mai. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và ông Hà Đức Trưởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2022/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị X, sinh năm 1972 (có đơn Xn xét xử vắng mặt);

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn Ch, sinh năm 1974 (có đơn Xn xét xử vắng mặt);

Đều trú tại: Khu T, xã Th, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).

4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Th – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Hà Thị X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Hoàng Văn Ch năm 1992, được hai bên gia đình tổ Ch đám cưới và anh chị có đến đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Thanh Sơn (nay là huyện T). Hiện nay chị X đã làm mất Giấy chứng nhận kết hôn nên không có để cung cấp cho Tòa án. Khi làm thủ tục ly hôn, chị đến UBND xã M nhưng hiện nay sổ lưu trữ tại địa phương không có tên chị và anh Ch.

Sau khi kết hôn, chị và anh Ch ở riêng tại khu T, xã Th. Quá trình chung sống, anh chị thường xuyên mâu thuẫn, đã được hai bên gia đình khuyên giải, bảo ban nhưng vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Nay xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Ch nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ch.

- Về con chung: Chị và anh Ch có 04 người con chung là Hoàng Thị S, sinh năm 1994, Hoàng Thị Hoa B, sinh năm 1996, Hoàng Thị M, sinh năm 1999 và Hoàng Đức T, sinh năm 2022. Hiện nay, con chung của chị đều đã trưởng thành, tự lao động nuôi được bản thân nên chị không yêu cầu giải quyết về nuôi con chung.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2] Phía Bị đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Ch xác nhận, tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng như chị X trình bày là đúng. Anh đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị X, cho anh và chị X được ly hôn.

- Về con chung: Anh Ch xác nhận, anh và chị X có con chung như chị X trình bày là đúng. Hiện nay các con chung đều đã thành niên, tự lao động được nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi con chung.

- Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị X, không công nhận chị X và anh Ch là vợ chồng. Các quan hệ khác không giải quyết vì chị X, anh Ch không yêu cầu.

[4] Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chị X, không công nhận chị X và anh Ch là vợ chồng. Các quan hệ khác không giải quyết vì chị X, anh Ch không yêu cầu.

[5] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn, Bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị X và anh Ch chung sống như vợ chồng với nhau kể từ năm 1992. Trong quá trình chung sống hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Chị X có nguyện vọng yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh Ch. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 57 của Luật hôn nhân gia đình, không công nhận chị X và anh Ch là vợ chồng. Về con chung; tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, chị X và anh Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí sơ thẩm, chị X có đơn xin miễn nộp tiền án phí vì là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Chị Hà Thị X có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn Ch, trú tại: khu T, xã Th, huyện T. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, chị X có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải do đó Tòa án đã xác định vụ án không hòa giải được và Quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị X, anh Ch đều có đơn Xn xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện T xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

. Về nội dung vụ án:

2.2. Về quan hệ hôn nhân:

Năm 1992, chị Hà Thị X và anh Hoàng Văn Ch được gia đình tổ Ch lễ cưới theo phong tục tập quán, sau đó anh chị cùng chung sống, coi nhau như vợ chồng tại nhà bố mẹ anh Ch.

Theo chị X và anh Ch trình bày, năm 1992 anh chị đã đến UBND xã M (nơi đăng ký thường trú của chị X) để đăng ký kết hôn. Chị được nhận tờ Giấy chứng nhận kết hôn, tuy nhiên do thời gian đã lâu nên anh chị không còn lưu giữ và không có để cung cấp cho Tòa án.

Để xác định tình trạng hôn nhân của anh Ch và chị X, Tòa án nhân dân huyện T đã làm việc tại UBND xã M. Tại Biên bản xác minh ngày 17/11/2022, UBND xã M cung cấp: Toàn bộ sổ đăng ký kết hôn hiện đang lưu trữ tại UBND xã M (có sổ đăng ký kết hôn năm 1992), không có trường hợp đăng ký kết hôn giữa chị Hà Thị X và anh Hoàng Văn Ch.

Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, UBND xã Th cung cấp: Anh Hoàng Văn Ch và chị Hà Thị X chung sống như vợ chồng tại khu Tân An, xã Th từ năm 1992 đến nay; trong thời gian này, anh Ch và chị X không đến UBND xã Th đăng ký kết hôn.

Như vậy, theo các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án đã thu thập được, thấy rằng không có căn cứ chứng minh anh Hoàng Văn Ch và chị Hà Thị X đã đăng ký kết hôn tại UBND xã M năm 1992 và từ năm 1992 đến nay, anh Ch, chị X chưa đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã nơi anh hoặc chị đăng ký nhân khẩu thường trú.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”

Căn cứ vào quy định được viện dẫn nêu trên, đối chiếu với sự kiện pháp lý phát sinh giữa chị X và anh Ch thì quan hệ hôn nhân giữa anh, chị chưa được pháp luật thừa nhận. Mặt khác, trong quá trình chung sống như vợ chồng, hai bên có phát sinh mâu thuẫn, không còn quan tâm, chăm sóc nhau.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, chị X và anh Ch đều xác định hai bên chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992, không có căn cứ xác định anh chị đã làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ giữa chị X và anh Ch không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Nay chị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ch, cần chấp nhận yêu cầu của chị X, không công nhận chị X và anh Ch là vợ chồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

2.2. Về con chung:

Chị X và anh Ch có 04 người con chung Hoàng Thị S, sinh năm 1994, Hoàng Thị Hoa B, sinh năm 1996, Hoàng Thị M, sinh năm 1999 và Hoàng Đức T, sinh năm 2022. Hiện nay, con chung đều đã trưởng thành, tự lao động nuôi được bản thân nên chị X và anh Ch không yêu cầu giải quyết về nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

2.3. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Quá trình giải quyết vụ án, chị X và anh Ch không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết vụ án trong phạm vi khởi kiện của Nguyên đơn và không giải quyết về chia tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của chị X đối với anh Ch. Khi chị X, anh Ch có yêu cầu thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

2.4. Về án phí: Chị X là Nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị X là người dân tộc thiểu số, hiện đang sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Vì vậy, cần miễn nộp tiền án phí cho chị X là phù hợp.

3. Về quyền kháng cáo: Chị X và anh Ch được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

4. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn, Bị đơn tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hà Thị X và anh Hoàng Văn Ch là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Chị X và anh Ch có 04 người con chung là Hoàng Thị S, sinh năm 1994, Hoàng Thị Hoa B, sinh năm 1996, Hoàng Thị M, sinh năm 1999 và Hoàng Đức T, sinh năm 2022. Hiện nay, con chung đều đã trưởng thành, tự lao động nuôi được bản thân nên chị X và anh Ch không yêu cầu giải quyết về nuôi con chung.

3. Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí sơ thẩm cho chị Hà Thị X.

5. Về quyền kháng cáo: Chị X và anh Ch có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Nơi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- - VKSND huyện, tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- THADS huyện T;

(đã ký)

- - UBND xã Th;

- - Các đương sự;

- - Lưu: HSVA.

Nguyễn Thị Hồng Mai THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi Nơi nhận:

Cỡ chữ