vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vu an ly hon giữa T và N"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2022
V/v tranh chấp “xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Dũ

Bà Trần Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước không tham gia

phiên tòa.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân

Phước mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số

81/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp "xin ly hôn”,

theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXX-ST ngày 28 tháng 6 năm

2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13/7/2022,

giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T.

2. Bị đơn: Anh Trần Anh N, sinh năm 1974

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T.

- Chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Anh N vắng mặt không lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 19/4/2022 nguyên đơn chị

Nguyễn Thị Lệ T trình bày: Tôi và anh Trần Anh N cưới nhau vào năm 2020, có

quen biết tìm hiểu trước và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện

T vào ngày 16/9/2020. Trong đời sống vợ chồng chung sống không hạnh phúc,

thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng, thường hay cải vã. Lý do, do tính

tình không phù hợp, nên tôi không thể tiếp tục chung sống với anh N được nữa và ly thân từ tháng 10/2021 cho đến nay. Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo Tr, sinh ngày 10/10/2021, hiện đang sống cùng tôi.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trần Anh

N; Về con chung: yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Tr. Không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung; không có; Về nợ chung: không có.

Ngày 23/6/2022 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ T có đơn đề nghị Tòa án

xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Trần Anh N đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện

của chị T và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh N vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ T và bị đơn anh Trần Anh N vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Hội đồng xét thấy theo đơn khởi kiện và yêu cầu của chị

Nguyễn Thị Lệ T tại phiên tòa, thì chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Phước giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Anh N. Anh Trần Anh N hiện cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh T. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước theo qui định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp "Ly hôn" qui định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Anh N không có yêu cầu phản tố và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để xét xử nhưng anh N vẫn vắng mặt hai lần không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ T và bị đơn anh Trần Anh N.

Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Lệ T

yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Anh N. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ T. Hội đồng xét xử xét thấy chị T và anh N cưới nhau vào năm 2020, có quen biết tìm hiểu trước và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T vào ngày 16/9/2020. Chị T xác định trong đời sống vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng, thường hay cải vã. Lý do, do tính tình không phù hợp, nên không thể tiếp tục chung sống với anh N được nữa và ly thân từ tháng 10/2021 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không hàn gắn được gì. Hội đồng xét xử xét thấy thực tế thời gian chung sống hạnh phúc giữa chị T và anh N là ngắn, trong thời gian ly thân nhau, chị T và anh N cũng không có một động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án chị T cương quyết được xin ly hôn đối với anh N vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Lời khai của bà Nguyễn Thị H là mẹ ruột chị T cũng xác định chị T

và anh N có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Bị đơn anh Trần Anh N

đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của chị T và cũng được Tòa án

triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh N vẫn vắng mặt không lý do và

cũng không có văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án. Anh N đã

được Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và

công khai chứng cứ nhưng anh vẫn không có ý kiến. Như vậy chứng tỏ anh N

đã không có tình cảm đối với chị T. Việc chị T xin ly hôn anh N khi con chung

của anh chị đến nay chưa được 01 tuổi chứng tỏ chị T đã không thể chung sống

với anh N. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và

anh N là đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ nên Hội đồng xét

xử căn cứ vào điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị

Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn anh Trần Anh N là phù hợp.

Về con chung: Chị T và anh N có 01 chung là Nguyễn Ngọc Bảo Tr,

sinh ngày 10/10/2021, hiện cháu Tr đang sống cùng chị T. Quá trình giải quyết

vụ án chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu Tr. Anh N cũng không có

yêu cầu nuôi con chung. Cháu Tr hiện nay còn rất nhỏ nên rất cần sự chăm sóc

của mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho chị T tiếp tục nuôi cháu Tr

là đảm bảo cuộc sống cho cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị T không yêu

cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án

giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không

đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định

tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia

đình.

- Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố

tụng dân sự.

- Căn cứ Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

- Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với anh Trần Anh N.

2. Về con chung:

- Giao cho chị Nguyễn Thị Lệ T được tiếp tục nuôi một con chung giữa

chị và anh Trần Anh N là cháu Nguyễn Ngọc Bảo Tr, sinh ngày 10/10/2021.

Anh Trần Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T chưa có yêu

cầu.

Anh Trần Anh N có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con

chung không ai được quyền tranh cản.

3. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Lệ T phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân sơ

thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0003035 ngày 09/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như chị T thi hành xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị T và anh N được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ