vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Cao Thị Diễm K đối với ông Nguyễn Chí C. Bà Cao Thị Diễm K được ly hôn với ông Nguyễn Chí C.

Về nuôi con chung: Giao 02 nguời con chung tên Cao Diễm N, sinh ngày 14/11/2014 và Nguyễn Cao Chí Q, sinh ngày 06/4/2017 cho Cao Thị Diễm K trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Chí C không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiều - Công"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Cao Thị Diễm K đối với ông Nguyễn Chí C. Bà Cao Thị Diễm K được ly hôn với ông Nguyễn Chí C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19 – 4 – 2022
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Liêm.

Ông Nguyễn Minh Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2022/TLST–HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2022 về: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2022/QĐST–HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Diễm K, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 23/02/2022 nguyên đơn bà Cao Thị Diễm K trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Chí C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh C. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng trong cuộc sống hôn nhân. Hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2020 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Chí C.

Về nuôi con chung: Bà và ông Công có 02 nguời con chung tên Cao Diễm N, sinh ngày 14/11/2014 và Nguyễn Cao Chí Q, sinh ngày 06/4/2017. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Chí C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho biết việc bà K khởi kiện tại Tòa án nhưng ông C không có ý kiến gì đối với những yêu cầu của bà K và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 14/3/2022 bà Cao Thị Diễm K trình bày: Về hôn nhân bà vẫn giữ quan điểm yêu cầu ly hôn với ông C. Về nuôi con chung hai con chung Cao Diễm N (mang họ mẹ) và Nguyễn Cao Chí Q hiện đang sống với bà vì từ khi vợ chồng ly thân đến nay khoảng 02 năm con chung do bà nuôi dưỡng ông C không quan tâm đến con chung, nay bà yêu cầu được nuôi hai con không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do điều kiện đi làm ăn xa nên yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Cao Thị Diễm K khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Chí C, địa chỉ: ấp B, xã V, huyện N, tỉnh C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Cao Thị Diễm K có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Chí C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà K và ông C.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Cao Thị Diễm K và ông Nguyễn Chí C qua tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 61 ngày 22/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V huyện Ngọc H, tỉnh C nên hôn nhân giữa bà K và ông C là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Bà K nhận thấy cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, chung sống không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn. Đối với, ông C đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng thông báo việc bà K xin ly hôn nhưng ông C không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà K. Xét thấy, mâu thuẫn của bà K và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K, bà K được ly hôn với với ông C.

Về nuôi con chung: Gồm có 02 nguời con chung tên Cao Diễm N, sinh ngày 14/11/2014 và Nguyễn Cao Chí Q, sinh ngày 06/4/2017. Sau khi ly hôn bà K yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông C không có ý kiến phản hồi về việc yêu cầu nuôi con của bà K.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại đơn nguyện vọng ngày 14/3/2022 của con chung Cao Diễm N có nguyện vọng sống với mẹ và bà K có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên Hội đồng xét xử tôn trọng ý kiến của con chung. Đối với con chung Nguyễn Cao Chí Q do con chưa đủ tuổi để ghi nhận ý kiến nhưng từ khi ly thân đến nay con chung do bà K nuôi dưỡng và con chung vẫn phát triển bình thường để không làm xáo trộn môi trường sống của con chung nên căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử quyết định để bà K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Cao Diễm N và Nguyễn Cao Chí Q là phù hợp. Bà K không yêu cầu ông Ccấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà K phải chịu 300.000 đồng. Bà K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019964 ngày 23 tháng 02 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N được chuyển thu.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Cao Thị Diễm K đối với ông Nguyễn Chí C. Bà Cao Thị Diễm K được ly hôn với ông Nguyễn Chí C.

Về nuôi con chung: Giao 02 nguời con chung tên Cao Diễm N, sinh ngày 14/11/2014 và Nguyễn Cao Chí Q, sinh ngày 06/4/2017 cho Cao Thị Diễm K trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Chí C không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của bà Cao Thị Diễm K.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Cao Thị Diễm K phải chịu 300.000 đồng. Bà Cao Thị Diễm K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019964 ngày 23 tháng 02 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ

Cỡ chữ