vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị T và anh Phan Văn T1.

Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phan Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 16/11/2007. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T1 có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Về án phí dân sự s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị T và anh T1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị T và anh Phan Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06-5-2022.
V/v: “Ly hôn giữa chị T và anh T1”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Xuyến.

Bà Phạm Hồng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 23/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/02/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04/4/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T; Sinh năm: 1982(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Hậu Phú, xã H, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Bị đơn:Anh Phan Văn T1; Sinh năm: 1974(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Hậu Phú, xã H, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2022 được bổ sung tại bản tự khai ngày 24/02/2022, nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày: Chị và anh Phan Văn T1 kết hôn vào ngày 02/02/2005, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng chung sống bình thường một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân thời gian dài. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 đã thực sự đổ vỡ, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Vì vậy, chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn T1.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Phan Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 16/11/2007. Hiện con chung đang ở cùng chị. Nay ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Đỗ Thị T vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tố đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn anh Phan Văn T1 không đến Tòa án để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Thanh. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Phan Văn T1 vẫn vắng mặt.

Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án đối với mẹ của anh Phan Văn T1 là bà Phạm Thị Trâm cho biết: Anh T1 và chị T kết hôn vào năm 2005, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau một thời gian chung sống do mâu thuẫn nên anh chị đã sống ly thân hơn 10 năm nay. Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Phan Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 16/11/2007. Hiện con chung đang ở cùng chị T. Về tài sản, công nợ chung: Anh chị không có.

Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại chính quyền địa phương cho thấy: Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của chị T và anh T1, UBND xã không nắm được do các đương sự nộp đơn tại Tòa án, địa phương không tổ chức hòa giải.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị T và anh Phan Văn T1. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phan Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 16/11/2007. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị T, anh Phan Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Đỗ Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh Phan Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về việc kết hôn: Chị Đỗ Thị T và anh Phan Văn T1 kết hôn vào ngày 02 tháng 02 năm 2005, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Anh chị có thời gian sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Trong suốt thời gian vợ chồng ly thân anh chị không có biện pháp nào hiệu quả để hàn gắn tình cảm vợ chồng cũng như toàn bộ quá trình giải quyết vụ án anh T1 không có mặt. Điều đó chứng tỏ anh không còn tha thiết với cuộc sống chung vợ chồng nữa. Vì vậy, cuộc hôn nhân giữa chị T và anh T1 nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị T đối với anh Phan Văn T1.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Phan Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 16/11/2007. Trên cở sở xem xét yêu cầu của đương sự và nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo sự ổn định và phát triển toàn diện của con chung, tiếp tục giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung Anh T1 có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Sau này, anh T1 có yêu cầu giải quyết về tài sản, công nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị T, anh Phan Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị T và anh Phan Văn T1.

2. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phan Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 16/11/2007. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T1 có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.

3.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0004560 ngày 24/02/2022.

4.Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị T, anh Phan Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ