vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị D và anh Trần Văn Q.

Về con chung: Buộc anh Trần Văn Q phải giao con chung là: Trần Chí K, sinh ngày 24-5-2021 cho chị Đinh Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chị Đinh Thị D không yêu cầu nên anh Trần Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị D, nhưng anh Q có quyền , ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị D và Trần Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị D và anh Trần Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THUỶ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:32/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08-7-2022.
V/v: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Trường;

Ông Đoàn Trung Tuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Hà Viết Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:43/ 2022/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn tranh chấp về nuôi con ”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị D - Sinh năm 1990; nơi ĐKHTT: Xóm 6 (xóm 19 cũ), xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định; tạm trú: Xóm X, xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định. “Có mặt”

Bị đơn: Anh Trần Văn Q - Sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm 6 (xóm 19 cũ), xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13- 4- 2022 và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đinh Thị D trình bày: Chị và anh Trần Văn Q qua sự tìm hiểu thống nhất và tự nguyện đi đến kết hôn. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định vào ngày 31 tháng 8 năm 2021. Sau ngày cưới vợ chồng luôn sảy ra mâu thuẫn nguyên do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 11 năm 2021 cho đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn Q.

Tại bản tự khai ngày 18/5/2022 và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Văn Q trình bày: Anh và chị Đinh Thị D qua sự tìm hiểu thống nhất và tự nguyện đi đến kết hôn, đã được UBND xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn cho vợ chồng vào ngày 31 tháng 8 năm 2021. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, do mẫu thuẫn mẹ chồng nàng dâu. Nay chị D có đơn ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn anh hoàn toàn nhất trí ly hôn chị Đinh Thị D.

Về con chung: Chị D và anh Q đều trình bày: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Chí Kiên, sinh ngày 24-5-2021. Hiện nay con chung anh Q đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị D có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Anh Q cũng có nguyện vọng nhận tiếp tục nuôi cả con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị D và anh Q đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo nội dung biên bản thu thập chứng cứ ngày 10-6-2022, đại diện đoàn thể, đại diện chính quyền xã Gi cung cấp: Chị Đinh Thị D và anh Trần Văn Q đăng ký kết hôn tại UBND xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định vào ngày 31 tháng 8 năm 2021. Trong thời gian vợ chồng chung sống nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không được biết, chỉ biết chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã Giao Xuân ở. Nay chị D có đơn ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có 01 con chung là Trần Chí K, sinh ngày 24-5-2021 hiện nay con chung đang ở cùng anh Q hiện nay con chung chưa đủ 36 tháng tuổi để bảo đảm quyền lợi của trẻ em đề nghị giao con chung cho chị D nuôi dưỡng, còn mức cấp dưỡng do các bên đương sự thỏa thuận.Vợ chồng không có tài sản chung và không vướng mắc gì về kinh tế, tài sản đối với tập thể.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Vợ chồng chị Đinh Thị D và anh Trần Văn Q, mâu thuẫn đã trầm trọng khả năng đoàn tụ không còn, nên có đủ cơ sở để giải quyết ly hôn. Về con chung hiện do anh Q đang nuôi dưỡng, do con chung chưa đủ 36 tháng tuổi, vì vậy nên giao con chung cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị D và anh Trần Văn Q đã tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gi, huyện Giao Thủy vào ngày 31 tháng 8 năm 2021 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Qua thời gian chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, do mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu. Vợ chồng đã sống ly thân, nay cả hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể cùng chung sống với nhau được nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh Q đã trầm trọng, nếu kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Chị D và anh Q cùng thống nhất ly hôn. Vì vậy chấp nhận nguyện vọng ly hôn của chị D và anh Q là phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Đinh Thị D và anh Trần Văn Q đều có nguyện vọng và điều kiện nuôi con, hiện tại con chung anh Q đang trực tiếp nuôi. Nhưng do con chung là cháu Trần Chí K, sinh ngày 24-5-2021, chưa đủ 36 tháng tuổi, nên buộc anh Quyết phải giao cháu Trần Chí K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D không yêu cầu nên anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị D, nhưng anh Q có quyền , nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản: Chị D, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét điều chỉnh.

Về án phí: Chị D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị D và anh Trần Văn Q.

2. Về con chung: Buộc anh Trần Văn Q phải giao con chung là: Trần Chí K, sinh ngày 24-5-2021 cho chị Đinh Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chị Đinh Thị D không yêu cầu nên anh Trần Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị D, nhưng anh Q có quyền , nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Đinh Thị D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Duyên đã nộp theo biên lai thu số 0000137 ngày 26-4-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy nay được chuyển thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị D và anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trong trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Giao Thủy;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS huyện Giao Thủy;

- UBND xã Giao Long;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Phạm Thanh Lâm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Trường

Đoàn Trung Tuyến

Phạm Thanh Lâm

Cỡ chữ