vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

́ Tòa á n về mứ c thu án phí, lệ phí Tòa án”. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Văn M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HNGĐ-ST
Ngày 25-8-2022
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia
đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Đoàn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiếu;

2. Bà Hoàng Thị Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Loan, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư Kuin.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phúc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 73/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Phan Văn M, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T, có đơn xin xét xử vắng mặt

* Bị đơn: Chị H L R Knul, sinh năm 1997; Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn anh Phan Văn M trình bày:

Tôi và chị H L R Knul có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 18/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xung đột và không có tiếng nói chung. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bản thân tôi không thể tiếp tục sống với chị H L R, nên tôi làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với chị H L R.

Về con chung: Quá trình chung sống, tôi và chị H L R có 01 con chung là cháu Phan Thị R, sinh ngày 28/9/2016, hiện nay cháu R đang sinh sống cùng chị H L R và nếu Toà án giải quyết vợ chồng ly hôn thì tôi có nguyện vọng giao cháu R cho chị H L R chăm sóc, nuôi dưỡng cháu R đến tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện nay tôi đang làm nghề cơ khí tại tỉnh Bình Dương, nên tôi không đủ thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng cháu R đến tuổi thành niên, nên tôi không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn chị H L R Knul: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu hợp lệ nhiều lần nhưng chị H L R không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh tại địa phương nơi chị H L R đang cư trú, được biết chị H L R vẫn sinh sống tại địa phương nhưng cố tình lẩn tránh nên Tòa án không thể lấy lời khai của chị H L R được.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, thủ tục giải quyết và việc thu thập chứng cứ theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng từ khi khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc phần tranh luận.

Về nội dung: Đề nghi ̣ HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Văn M.

Về hôn nhân: Anh Phan Văn M được ly hôn với chị H L R Knul.

Về con chung: Giao cháu Phan Thị R, sinh ngày 28/9/2016 cho bà H L R Knul chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, Viện kiểm sát, HĐXX xét thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị H L R Knul và anh Phan Văn M là các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh M có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về hôn nhân: Anh Phan Văn M và chị H L R Knul đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 18/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét tình trạng hôn nhân giữa anh M và chị H L R qua lời trình bày của nguyên đơn, cũng như kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T. Thời gian chung sống với nhau, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không có tiếng nói chung. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nên anh M làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với chị H L R.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M.

. Về con chung: Quá trình chung sống, anh M và chị H L R có 01 con chung là cháu Phan Thị R, sinh ngày 28/9/2016, hiện nay cháu R đang sinh sống cùng chị H L R, anh M có nguyện vọng giao cháu R cho chị H L R chăm sóc, nuôi dưỡng cháu R đến tuổi thành niên.

Xét thấy cháu R từ trước đến nay đều ở cùng chị H L R từ nhỏ, được chị H L R chăm sóc nuôi dưỡng, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, cũng như nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên, Hội đồng xét xử cần giao cháu R cho chị H L R nuôi dưỡng là phù hợp.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí: Anh Phan Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghi ̣ quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng á n phi và lê ̣ phi

́

́ Tòa á n về mứ c thu án phí, lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Văn M.

1. Về hôn nhân: Anh Phan Văn M được ly hôn với chị H L R Knul.

2. Về nuôi con: Giao cháu Phan Thị R, sinh ngày 28/9/2016 cho chị H L R Knul chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Anh Phan Văn M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi 300.000 đồnǵ

mà anh M đã nộp theo biên lai thu tiền số 60AA/2021/0002174 ngày 23/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Anh M đã nộp xong tiền án phí.

4. Thông báo quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ