vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng dân sự;

thường vụ Quốc hội; 1/ Ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị C: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị C tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

Số: 32/2022/HNGĐ-ST

Ngày: 28/07/2022

TO ÁN NHÂN DÂN CỘNG HO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM HUY N TÂY SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh ch p ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM TO ÁN NHÂN DÂN HUY N TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH - Th nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bà Nguyễn Thị Giang Nam. Các Hội thẩm nhân dân 1. Bà Trần Thị Lan 2. Bà Nguyễn Thị Diễm Chi. - Thư ký phiên tòa Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh ch p ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị C, sinh năm 1988 (Có mặt). Trú tại: Xóm X, thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Bình Định -Bị đơn: Anh Nguyễn Anh Q, sinh năm 1985 (Vắng mặt) Trú tại: Thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Đỗ Thị C trình bày: chị và anh Nguyễn Anh Q tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau được hai bên gia đình ch p nhận, tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục nhưng không nhớ rõ ngày tháng năm; có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 20/11/2019. Sau khi cưới chị và anh Nguyễn Anh Q sống hạnh phúc được 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh Q không chú tâm làm ăn, mà còn rượu chè về gây sự đánh đập chị. Chị đã bỏ qua, khuyên nhủ nhiều lần để tiếp tục chung sống nhưng anh Q không cải sửa. Đến tháng 4/2021 vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai n y sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét th y không còn tình cảm yêu thương gì, chị yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Anh Q.

-Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung không yêu cầu Tòa giải quyết. -Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết. Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Anh Q vắng mặt không có lý do: Anh Nguyễn Anh Q đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, gi y triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung c p lời khai và yêu cầu đối với vụ án. Tại biên bản xác minh ngày 14/7/2022 Công an xã B cung c p: anh Nguyễn Anh Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định theo hộ khẩu của cha anh là ông Nguyễn V; anh Q hiện đi làm ăn xa thỉnh thoảng về địa phương sinh sống, chưa làm thủ tục chuyển khẩu, cắt khẩu đi nơi khác. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu Việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm,Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015. Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Đỗ Thị C được ly hôn anh Nguyễn Anh Q. Về con chung: chưa có con chung - miễn xét. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét. Án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Anh Q vắng mặt mặc dù đã được triệu tâp hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị C với anh Nguyễn Anh Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 20/11/2019 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống đến tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh Q không chú tâm làm ăn, gây sự đánh đập chị C. Chị C đã khuyên nhủ, bỏ qua nhiều lần để tiếp tục chung sống nhưng tình hình không tiến triển. Chị C và anh Q đã cắt đứt quan hệ, phần ai n y sống, không còn quan

tâm gì đến nhau từ tháng 4/2021 đến nay. Vợ chồng xa cách đã lâu, anh Q vẫn không quan tâm, bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị C yêu cầu ly hôn với anh Q là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ch p nhận. [3] Về con chung: Chị C và anh Q chưa có con chung, nên miễn xét. [4] Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. [5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc chị Đỗ Thị C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0007245 ngày 25/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị C đã nộp đủ án phí. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 8, 9, 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tuyên xử: 1/ Ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị C: - Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị C được ly hôn anh Nguyễn Anh Q. - Về con chung: Chị C và anh Q chưa có con chung - nên miễn xét. - Về tài sản chung: Không yêu cầu nên miễn xét. 2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đỗ Thị C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0007245 ngày 25/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị C đã nộp đủ án phí. 3/ Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án. 4/ Quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại

các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ