vanban.org

Bản án 32/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L 1.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 số tiền 99.000.000 đồng (Chín mươi chín triệu đồng) vay gốc và 22 (Hai mươi hai) chỉ vàng 24k vay gốc. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L 1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T PH
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/DS-ST
Ngày: 21-01-2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và đòi lại tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T PH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.

2. Ông Phạm Thành Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2021/TLST-DS, ngày 16 tháng 3 năm 2021, về việc“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2021, Quyết định hoãn phiên toà số: 385/2021/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị L 1, sinh năm 1963; nơi cư trú thônA C, xã P H, huyện T Ph, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn L 2, sinh năm 1961; nơi cư trú thôn Q N, xã P H, huyện T Ph, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị L 3, sinh năm 1965; nơi cư trú thôn Q N, xã P H, huyện T Ph, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ L 3 quan: Ông Dương Văn T, sinh năm 1958; nơi cư trú thônA C, xã P H, huyện T Ph, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người đại diện hợp của người có quyền lợi, nghĩa vụ L 3 quan ông Dương Văn T: Bà Phan Thị L 1, sinh năm 1963; nơi cư trú thônA C, xã P H, huyện T Ph, tỉnh Bình Định đại diện theo uỷ quyền (Theo văn bản uỷ quyền đã được Uỷ ban nhân dân xã P H, huyện T Ph, tỉnh Bình Định chứng thực); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2021, đơn khởi kiện bổ sung ngày 07 tháng 6 năm 2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị L 1 đồng thời là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ L 3 quan ông Dương Văn T trình bày: Bà là vợ của ông Dương Văn T; vợ chồng bà và vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có mối quan hệ quen biết nhau. Từ năm 2013 đến năm 2016 vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 vay tiền và vàng của vợ chồng bà nhiều lần để về sửa chữa nhà ở và tổ chức lễ thành hôn cho con; cụ thể trong năm 2013, vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 nhiều lần vay tiền và vàng của vợ chồng bà, sau đó vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 thanh toán cho vợ chồng bà một số tiền và vàng gốc. Đến ngày 20 tháng 4 năm 2013 hai bên tính toán lại thì vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 còn nợ của vợ chồng bà số tiền 13.000.000 đồng vay gốc và 02 chỉ vàng 24k vay gốc. Khi vay tiền và vàng, vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 cam kết trong thời hạn vài tháng kể từ thời điểm vay sẽ trả lại cho vợ chồng bà số tiền, số vàng vay gốc và trả tiền lãi theo lãi suất ngân hàng trên số tiền gốc còn nợ nhưng đến nay vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như thoả thuận. Vào ngày 02 tháng 7 năm 2016, vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 tiếp tục vay của vợ chồng bà 86.000.000 đồng và 20 chỉ vàng 24K. Vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 cam kết 02 năm sau sẽ trả số tiền và số vàng vay gốc trên cho vợ chồng bà và trả tiền lãi theo lãi suất ngân hàng trên số tiền gốc còn nợ. Khi vay số vàng và số tiền của các lần vay trên thì vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 đều viết giấy vay, giấy nhận nợ; vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 ký xác nhận vào các tờ giấy này. Mặc dù nhiều lần vợ chồng bà yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả số tiền và số vàng còn nợ nhưng vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 chỉ hẹn chứ không trả nợ. Nay bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà số tiền 99.000.000 đồng vay gốc và 22 chỉ vàng 24k vay gốc. Bà không yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 trả tiền lãi và lãi vàng. Ngoài ra vợ chồng bà không yêu cầu gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ L 3 quan cũng như không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; đối với nguyên đơn bà Phan Thị L 1, người có quyền lợi nghĩa vụ L 3 quan ông Dương Văn T thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L 1. Căn cứ vào các điều 166, 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015, vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 số tiền 99.000.000 đồng vay gốc và 22 chỉ vàng 24k vay gốc. Vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 không yêu trả tiền lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí mà bà Phan Thị L 1 đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Phan Thị L 1 khởi kiện yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 số tiền 99.000.000 đồng vay gốc và 22 chỉ vàng 24k vay gốc. Hội đồng xét xử xét thấy đối với hợp đồng vay tài sản mà các bên xác lập vào năm 2013 thì đến ngày 20 tháng 4 năm 2013 các bên xác định nghĩa vụ còn lại của bên vay tài sản là vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 đối với bên cho vay tài sản là bà Phan Thị L 1. Chứng cứ hợp đồng vay tài sản trên xác định vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 cam kết trả nợ tài sản vay cho bà Phan Thị L 1 trong thời hạn vài tháng kể từ thời điểm vay tài sản. Căn cứ Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tính đến thời điểm bà Phan Thị L 1 khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vay tài sản trên đã hết. Tuy nhiên theo Điều 155 của Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu. Đối với hợp đồng vay tài sản mà các bên xác lập ngày 02 tháng 7 năm 2016 thì nội dung của hợp đồng mà các bên xác lập không có thời hạn vay. Do đó quan hệ pháp luật của vụ án dân sự là tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với hợp đồng vay tài sản ngày 02 tháng 7 năm 2016 và tranh chấp đòi lại tài sản đối với hợp đồng vay tài sản năm 2013 nên vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 cư trú tại thôn Q N, xã P H, huyện T Ph, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định.

Về thủ tục tố tụng: Ông Dương Văn T là người có quyền lợi, nghĩa vụ L 3 quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa; bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.

Nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Phan Thị L 1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Phan Thị L 1, ông Dương Văn T số tiền 99.000.000 đồng vay gốc và 22 chỉ vàng 24k vay gốc còn nợ; không yêu cầu trả tiền lãi và lãi vàng. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 đã được Tòa án tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì L 3 quan đến vụ án. Chứng cứ là giấy xác nhận nợ ngày 20 tháng 4 năm 2013 và “giấy mượn tiền và vàng” ngày 02 tháng 7 năm 2016 do nguyên đơn cung cấp chứng minh trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2016 vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 nhiều lần vay tài sản là tiền và vàng của vợ chồng bà Phan Thị L 1, ông Dương Văn T. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015“Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó có căn cứ xác định vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có vay và hiện nay còn nợ vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 số tiền 99.000.000 đồng vay gốc và 22 chỉ vàng 24k vay gốc.

Hợp đồng vay tài sản sản mà các bên xác lập là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi, nhưng các bên không xác định rõ lãi suất. Vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 không yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 trả tiền lãi và lãi vàng; vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 không ý kiến gì đối với việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử không xét về lãi suất.

Từ các chứng cứ mà các đương sự cung cấp và những chứng cứ Tòa án đã thu thập được, căn cứ vào Điều 166, Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc vợ chồng Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 số tiền 99.000.000 đồng vay gốc và 22 chỉ vàng 24k vay gốc.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn vợ chồng Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 phải chịu số tiền [99.000.000 đồng + (22 chỉ vàng 24k x 5.000.000 đồng/chỉ)] x 5% = 10.450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chi cục thi hành án dân sự huyện T Ph, tỉnh Bình Định hoàn trả lại cho bà Phan Thị L 1 số tiền tạm ứng án phí mà bà Phan Thị L 1 đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 166, 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L 1.

2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Dương Văn T, bà Phan Thị L 1 số tiền 99.000.000 đồng (Chín mươi chín triệu đồng) vay gốc và 22 (Hai mươi hai) chỉ vàng 24k vay gốc.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn L 2, bà Nguyễn Thị L 3 phải nộp số tiền 10.450.000 đồng (Mười triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Chi cục thi hành án dân sự huyện T Ph, tỉnh Bình Định hoàn trả lại cho bà Phan Thị L 1 số tiền tạm ứng án phí 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001030 ngày 15 tháng 3 năm 2021 và số tiền tạm ứng án phí 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005858 ngày 08 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T Ph, tỉnh Bình Định mà bà Phan Thị L 1 đã nộp.

5. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 21 tháng 01 năm 2022). Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ