vanban.org

Bản án 32/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của ông T, bà Y đối với anh K, anh Mẫn E; đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh Mẫn E đối với ông D, ông Q, ông N. 2- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Y. Buộc ông Đỗ Văn L phải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn T, bà Dương Thị Y … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe giữa ông T, bà Y và ông L, anh K, anh E"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/DS-ST
Ngày: 24/5/2022
V/v tranh chấp BTTH về sức khỏe

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ

Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 12 năm 2021, ngày 17 và 24 tháng 5 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2020/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2020 về “tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2021/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 và bà Dương Thị Y, sinh năm 1982

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn:

1. Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1962

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

2. Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của anh K: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

3. Anh Đỗ Mẫn E, sinh năm 1997

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Dương Văn D, sinh năm 1979

2. Ông Dương Văn Q, sinh năm 1981

Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

3. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Dương Thị Y cùng trình bày: Trước đây phía ông L và cháu của ông bà có xảy ra va chạm giao thông, phía gia đình ông L và ông bà có lời qua tiếng lại, cãi vã nhau. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/5/2019, ông bà đang đẩy đất trồng rau trước nhà vợ chồng ông bà (tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang) thì ông L, anh K, anh Mẫn E, em T1 đến kiếm chuyện đòi đánh ông bà, hai bên lời qua tiếng lại. Sau đó anh K lại ôm ông T, còn ông L, Mẫn E và T1 đến đánh ông T vào mặt, vào đầu, tay chân và khắp người, ông L là người đánh ông T nhiều nhất, đánh bằng tay chân chứ không có hun khí gì. Bà Y thấy vậy chạy đến can ngăn thì cũng bị ông L dùng tay đánh. Hậu quả là ông bà bị thương, được người nhà đưa đi bệnh viện điều trị đa chấn thương.

Ông bà xác định người gây thiệt hại sức khỏe cho vợ chồng ông bà gồm Đỗ Văn L, Đỗ Mẫn E, Đỗ Văn K và Tạ Quang T1. Vợ chồng ông bà bị đánh, đá túi bụi nên không xác định cụ thể lỗi của từng người, trong đó ông L là người đánh ông bà nhiều nhất. Lý do ông bà chỉ khởi kiện ông L, anh K, anh Mẫn E mà không khởi kiện em T1 là vì sau khi xảy ra sự việc em T1 có đến nhà ông bà xin lỗi và biết lỗi nên ông bà bỏ qua, không yêu cầu gì đối với em T1. Ông bà xác định chỉ khởi kiện yêu cầu ông L, anh K và Mẫn E bồi thường thiệt hại sức khỏe cho vợ chồng ông bà gồm các khoản sau: Tiền thuốc theo toa cho 02 người 4.748.000đồng; tiền công lao động người bệnh 1.400.000đồng; tiền công người nuôi bệnh 700.000đồng; tiền xe 950.000đồng; tiền tái khám 575.000đồng. Tổng cộng 8.373.000đồng.

Đối với yêu cầu phản tố của anh Mẫn E thì ông bà không đồng ý vì ông T hoàn toàn không có đánh hay làm gì ảnh hưởng đến sức khỏe của anh Mẫn E. Sau khi ông T bị cha con ông L đánh đã đi điều trị bệnh, còn việc ông D, ông Q, ông N với anh Mẫn E như thế nào ông bà không biết. Nếu anh Mẫn E cho rằng ông T có đánh anh Mẫn E thì phải cung cấp chứng cứ chứng minh. Ông bà không muốn thương lượng, hòa giải gì với phía ông L vì mâu thuẫn đã trầm trọng.

* Đồng bị đơn ông Đỗ Văn L, anh Đỗ Văn K, anh Đỗ Mẫn E trình bày: Trước đây gia đình ông L và cháu của ông T có xảy ra va chạm giao thông, hai bên có lời qua tiếng lại, cãi vã nhau. Đến chiều ngày 03/5/2019, Đỗ Thị L (con ông L, chị của Mẫn E) đi làm về ngang nhà ông T thì bị ông T cầm cây Xẻng (Leng) có ý định đánh, anh Mẫn E thấy vậy lại hỏi nguyên nhân thì ông T và anh Mẫn E có giằng co qua lại, ông T dùng cây Xẻng đánh anh Mẫn E 3-4 cái, anh Mẫn E đở và giằng co qua lại, ông T và anh Mẫn E cùng ngã xuống ao (ao bị lắp bùn đến ngực). Ông L nghe vậy chạy đến vì nóng ruột nên có dùng tay đánh vào mặt ông T 2-3 cái nhẹ. Còn anh K không có tham gia xô xát, không đánh ai, anh K nghe đánh nhau nên đến thì sự việc đã được hàng xóm can ngăn.

Anh Mẫn E bị ông T đánh bằng Xẻng 3-4 cái, còn bị thương phải đưa đi điều trị tại Trung tâm Y tế huyện A. Đến khoảng 19 giờ ngày 03/5/2019 trên đường về anh Mẫn E bị ông T kêu người chặn đánh tại Khu hành chính (thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A) đến ngất xỉu, công an có lập biên bản sự việc, điều tra nhưng không khởi tố. Anh Mẫn E bị nhiều người gồm ông D, ông Q, ông N đánh túi bụi bằng cây dầu vuông, côn nhị khúc… đến ngất xỉu.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Y yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe trong việc xô xát trước nhà ông T (tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang) thì ông L, anh K, anh Mẫn E không đồng ý vì ông T là người kiếm chuyện trước, ông T còn dùng cây Xẻng đánh anh Mẫn E. Ông L là cha do nóng ruột nên có dùng tay đánh vào mặt ông T 2-3 cái nhẹ với mục đích can ngăn, bảo vệ anh Mẫn E cho ông T buông ra. Còn bà Y đứng bên ngoài la ó, chứ không có xô xát gì với bà Y.

Anh Mẫn E phản tố yêu cầu ông T, ông D, ông Q, ông N cùng chịu trách nhiệm bồi thường cho anh Mẫn E các khoản theo đơn phản tố gồm tiền viện phí, công người nuôi bệnh, chi phí ngày công lao động, ăn uống tổng cộng số tiền là 20.586.000đồng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn D trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh Mẫn E vì ông không liên quan đến việc anh Mẫn E bị thiệt hại sức khỏe. Ông yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn Q trình bày: Ông không có đánh anh Mẫn E, không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh Mẫn E.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh Mẫn E vì ông không liên quan đến việc anh Mẫn E bị thiệt hại sức khỏe.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn ông T, bà Y yêu cầu ông L bồi thường tiền thuốc theo toa cho 02 người 4.748.000đồng, tiền công lao động người bệnh 1.400.000đồng, tiền công người nuôi bệnh 700.000đồng, tiền xe 950.000đồng, tiền tái khám 575.000đồng, tổng cộng số tiền là 8.373.000đồng, trong đó ông T yêu cầu số tiền 7.751.000đồng; bà Y yêu cầu số tiền là 622.000đồng, không có yêu cầu gì đối với anh K, anh Mẫn E.

- Còn người đại diện theo ủy quyền của ông L chỉ đồng ý bồi thường 50% tiền thuốc, tiền công lao động, tiền xe, tiền tái khám cho ông T; không đồng ý tiền công người nuôi bệnh, không đồng ý đối với yêu cầu của bà Y vì ông L không có đánh bà Y.

- Người đại diện theo ủy quyền của anh K thống nhất ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của ông L.

- Anh Mẫn E xin rút một phần yêu cầu phản tố, cụ thể rút yêu cầu đối với ông D, ông Q, ông N trong việc xô xát tại Khu hành chính (thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A). Anh Mẫn E chỉ yêu cầu ông T bồi thường số tiền điều trị theo chứng từ tại Trung tâm Y tế huyện A trong việc xô xát trước nhà ông T (tại ấp T, xã Đ, huyện A).

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T về việc yêu cầu ông L bồi thường sức khỏe, chấp nhận yêu cầu của anh Mẫn E đối với ông T. Đình chỉ yêu cầu của ông T, bà Y đối với anh K, anh Mẫn E; đình chỉ yêu cầu của anh Mẫn E đối với ông D, ông Q, ông N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Dương Thị Y khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn L, anh Đỗ Văn K, anh Đỗ Mẫn E bồi thường thiệt hại về sức khỏe; bị đơn anh Đỗ Mẫn E cũng có yêu cầu phản tố bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Do đó theo Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn D, ông Dương Văn Q, ông Nguyễn Văn N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

Nguyên đơn ông T, bà Y không có yêu cầu gì đối với em Tạ Quang T1; bị đơn ông L, anh K, anh Mẫn E cũng trình bày em T1 chỉ là bạn của Mẫn E, không có tham gia đánh nhau. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết đưa em T1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông T, bà Y xác định chỉ yêu cầu ông L bồi thường thiệt hại, rút lại yêu cầu đối với anh K, anh Mẫn E; còn anh Mẫn E cũng xin rút lại một phần yêu cầu phản tố, cụ thể rút yêu cầu phản tố đối với ông D, ông Q, ông N trong việc xô xát tại Khu hành chính (thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A). Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của ông T, bà Y đối với anh K, anh Mẫn E; đình chỉ yêu cầu của anh Mẫn E đối với ông D, ông Q, ông N.

Ông T, bà Y khởi kiện cho rằng vợ chồng ông bà bị phía ông L, anh K, anh Mẫn E đánh bị thương, phải đi bệnh viện điều trị nên khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, tổng cộng số tiền là 8.373.000đồng, trong đó ông T yêu cầu số tiền 7.751.000đồng, bà Y yêu cầu số tiền là 622.000đồng; còn phía ông L thừa nhận hai bên có xô xát, ngoài ra ông T đánh anh Mẫn E bị thương, phải đưa đi điều trị tại bệnh viện nên anh Mẫn E phản tố yêu cầu ông T bồi thường thiệt hại.

Hội đồng xét xử xét thấy, qua các biên bản ghi lời khai của đương sự tại Cơ quan cảnh sát điều tra, xác nhận sự việc của ông Lâm Văn D, lời khai của ông Đặng Văn C, ông Đặng Văn N, biên bản sự việc xảy ra ngày 03/5/2019, báo cáo sự việc của Cơ quan cảnh sát điều tra, hồ sơ bệnh án có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 17 giờ ngày 03/5/2019 trước nhà vợ chồng ông T, bà Y tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, có xảy ra xô xát, đánh nhau giữa vợ chồng ông T, bà Y và ông L, anh Mẫn E. Ông L dùng tay đánh và gây thương tích cho vợ chồng ông T, bà Y; bà Y bị thương ở cẳng tay, còn ông T đánh và gây tổn thương phần mềm cho anh Mẫn E. Hậu quả làm ông T, bà Y và anh Mẫn E bị thương, phải đi bệnh viện khám và điều trị. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn không đáng có mà hai bên đương sự đã xô xát, đánh nhau, có hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác nên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu và thiệt hại thực tế của ông T, bà Y cũng như ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của ông L, Hội đồng xét xử xét thấy các chi phí hợp lý và có chứng từ, biên lai bao gồm tiền thuốc theo toa cho ông T, bà Y là 4.748.000đồng; tiền công lao động người bệnh trong những ngày điều trị như lao động phổ thông tại địa phương 07 ngày x 200.000đồng = 1.400.000đồng; tiền xe chuyển viện từ huyện A đến bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang 950.000đồng; tiền tái khám 575.000đồng, tổng số tiền là 7.673.000đồng. Về trách nhiệm bồi thường, tại phiên tòa ông T, bà Y xác định chỉ yêu cầu ông L bồi thường, còn người đại diện theo ủy quyền của ông L cũng nhận trách nhiệm một mình bồi thường. Do đó, buộc ông L có nghĩa vụ bồi thường cho ông T, bà Y số tiền này.

Đối với yêu cầu tiền công người nuôi bệnh với số tiền 700.000đồng của ông T, Hội đồng xét xử xét thấy không phù hợp với thực tế. Mặc khác, lời khai của Nguyễn Văn Q1 là cháu ông T cho rằng đã nhận tiền nuôi bệnh cho ông T 1.400.000đồng, khác với lời khai của em trai ông T là Nguyễn Văn H cho rằng thuê ông H đưa rước con đi học với số tiền 1.000.000đồng và cũng khác với lời khai của ông T khi thì khai tiền thuê xe ôm rước con đi học 750.000đồng nên không đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

Xét yêu cầu phản tố của anh Mẫn E đối với ông T, yêu cầu ông T bồi thường số tiền điều trị tại Trung tâm Y tế huyện A khi bị ông T đánh trước nhà ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, trong việc xô xát, đánh nhau trước nhà ông T thì anh Mẫn E bị tổn thương phần mềm, bị thương, phải đi bệnh viện khám. Do đó, yêu cầu này của anh Mẫn E là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể, chi phí hợp lý mà anh Mẫn E yêu cầu với số tiền có chứng từ, biên lai là 203.000đồng.

Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nghị án nên chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà Y buộc ông L phải bồi thường số tiền 7.673.000đồng; chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh Mẫn E buộc ông T phải bồi thường số tiền 203.000đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 383.000đồng. Ông T phải chịu án phí không có giá gạch là 300.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 584, 585, 590, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của ông T, bà Y đối với anh K, anh Mẫn E; đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh Mẫn E đối với ông D, ông Q, ông N.

2- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Y. Buộc ông Đỗ Văn L phải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn T, bà Dương Thị Y tổng số tiền là 7.673.000đồng (Bảy triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn đồng).

3- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh Mẫn E. Buộc ông Nguyễn Văn T phải bồi thường thiệt hại cho anh Đỗ Mẫn E tổng số tiền là 203.000đồng (hai trăm lẻ ba nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4- Về án phí sơ thẩm: Ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 383.000đồng. Ông T phải chịu án phí không có giá gạch là 300.000đồng.

5. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ