- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Kh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Kh, phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HS-ST Ngày: 31 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phước.
Ông Hà Văn Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Huỳnh Kh, sinh ngày 02/01/2001 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: khóm B, phường H, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: khmer; giới tính: nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Ph và bà Nguyễn Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án: không (nhân thân vào ngày 18/9/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: không (vào ngày 24/12/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố ST ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng hiện đang chấp hành); bị cáo đang bị quản lý tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị hại:
Ông Lê Ngọc M, sinh năm 1969. Địa chỉ: khóm B, phường H, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Ông Phạm Văn S, sinh năm 1979. Địa chỉ: khóm B, phường H, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Kh là người không có nghề nghiệp ổn định và nghiện ma túy.
Vào khoảng hơn 23 giờ ngày 17 tháng 11 năm 2020, Kh một mình đi bộ từ nhà ra đường Dương Kỳ H để kiếm tài sản lấy trộm. Khi Kh đi đến công trình tại khóm B, phường H, thành phố ST, thì Kh nảy sinh ý định vào công trình này để lấy trộm tài sản. Lúc này khoảng hơn 00 giờ ngày 18/11/2020, Kh quan sát thấy không có ai nên đã leo tường hàng rào vào bên trong khuôn viên của công trình. Khi vào được bên trong công trình thì Kh lấy được tài sản gồm: 01 (một) máy hàn màu cam, nhãn hiệu BTEC; 01 (một) súng bắn bê tông, màu xanh, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) máy chà nhám băng hiệu Makita, màu xanh; 01 (một) máy khoan cầm tay nhãn hiệu Maktec, màu đỏ; 01 (một) máy mô tơ không rõ nhãn hiệu, xuất xứ Hàn Quốc, màu xanh; 01 (một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Maktec, màu đỏ; 01 (một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Makita, màu xanh; 01 (một) máy cắt gỗ, bàn cắt góc nghiêng 45 độ, không rõ nhãn hiệu, màu xanh; 01 (một) máy mài cầm tay, không rõ nhãn hiệu, màu đen. Khi lấy được tài sản Kh mang máy về nhà cất giấu, sau đó bán cho một người tên L (chưa rõ lai lịch) 07 cái máy với giá 1.500.000 đồng. Còn lại 01 máy hàn, màu cam, nhãn hiệu BTEC và 01 máy mô tơ không rõ nhãn hiệu, xuất xứ Hàn Quốc, màu xanh, Cơ quan Công an đã thu giữ. Tại Cơ quan điều tra bị can đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại cứ bản kết luận định giá tài sản số 158/KL.ĐGTS ngày 09/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sóc Trăng kết luận:
- 01(một ) máy hàn màu cam, nhãn hiệu BTEC, giá trị sử dụng còn lại 95%, với giá 3.450.000 đồng/máy x 95% x 01 máy = 3.277.500 đồng;
- 01(một) súng bắn bê tông màu xanh, giá trị sử dụng còn lại 55%, với giá 2.990.000 đồng/cái x 55% x 01 cái = 1.644.500 đồng;
- 01(một) máy chà nhám băng hiệu Makita, màu xanh, giá trị sử dụng còn lại 60%, với giá 2.460.000 đồng/máy x 60% x 01 máy = 1.476.000 đồng;
- 01(một) máy khoan cầm tay nhãn hiệu Maktec, màu đỏ, giá trị sử dụng còn lại 50%, với giá 1.050.000 đồng/máy x 50% x 01 máy = 525.000 đồng;
- 01(một) máy mô tơ, xuất xứ Hàn Quốc, màu xanh, giá trị sử dụng còn lại 50%, với giá 700.000 đồng/máy x 50% x 01 máy = 350.000 đồng;
- 01(một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Maktec, màu đỏ, giá trị sử dụng còn lại 85%, với giá 650.000 đồng/máy x 85% x 01 máy = 552.500 đồng;
- 01(một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Makita, màu xanh, giá trị sử dụng còn lại 85%, với giá 1.390.000 đồng/máy x 85% x 01 máy = 1.181.500 đồng;
- 01(một) máy cắt gỗ bàn, cắt góc nghiêng 45 độ, màu xanh, giá trị sử dụng còn lại 80%, với giá 1.175.000 đồng/máy x 80% x 01 máy = 1.400.000 đồng;
- 01(một) máy mài cầm tay, màu đen, giá trị sử dụng còn lại 50%, với giá 790.000 đồng/máy x 50% x 01 máy = 395.000 đồng;
Tổng cộng: 10.802.000 đồng.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01(một); máy hàn màu cam, nhãn hiệu BTEC; 01(một) máy mô tơ, xuất xứ Hàn Quốc, màu xanh. Qua xác minh làm rõ đã trả cho chủ sở hữu là ông Lê Ngọc M và ông Phạm Văn S; 07 máy còn lại bị cáo đã bán không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra bị hại Phạm Văn S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 1.644.500 đồng; Còn bị hại Lê Ngọc M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 5.308.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-TPST ngày 09/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Huỳnh Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Huỳnh Kh và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Huỳnh Kh phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585,586, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Phạm Văn S số tiền là 1.644.500 đồng; bồi thường cho bị hại Lê Ngọc M số tiền là 5.308.000 đồng.
- Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa, đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, các bị hại Lê Ngọc M, Phạm Văn S được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại Lê Ngọc M, Phạm Văn S không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Kh thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, cụ thể: vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân và hút ma túy nên vào khoảng 00 giờ ngày 18/11/2020 bị cáo đã lén lút lấy trộm các tài sản tại Công trình đang xây dựng khóm B, phường H, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng gồm: 01 (một) máy hàn màu cam, nhãn hiệu BTEC; 01 (một) súng bắn bê tông, màu xanh, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) máy chà nhám băng hiệu Makita, màu xanh; 01 (một) máy khoan cầm tay nhãn hiệu Maktec, màu đỏ; 01 (một) máy mô tơ không rõ nhãn hiệu, xuất xứ Hàn Quốc, màu xanh; 01 (một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Maktec, màu đỏ; 01 (một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Makita, màu xanh; 01 (một) máy cắt gỗ, bàn cắt góc nghiêng 45 độ, không rõ nhãn hiệu, màu xanh; 01 (một) máy mài cầm tay, không rõ nhãn hiệu, màu đen; bị cáo thực hiện một mình và không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội.
Lời thừa nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và phù hợp với các chứng cứ và tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy, bị cáo là người trưởng thành, thể hiện là người bình thường không bị mắc bệnh lý về tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vào ngày 18/11/2020 bị cáo đã lén lút lấy trộm các tài sản gồm: 01 (một) máy hàn màu cam, nhãn hiệu BTEC; 01 (một) súng bắn bê tông, màu xanh, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) máy chà nhám băng hiệu Makita, màu xanh; 01 (một) máy khoan cầm tay nhãn hiệu Maktec, màu đỏ; 01 (một) máy mô tơ không rõ nhãn hiệu, xuất xứ Hàn Quốc, màu xanh; 01 (một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Maktec, màu đỏ; 01 (một) máy cưa gỗ cầm tay hiệu Makita, màu xanh; 01 (một) máy cắt gỗ, bàn cắt góc nghiêng 45 độ, không rõ nhãn hiệu, màu xanh; 01 (một) máy mài cầm tay, không rõ nhãn hiệu, màu đen của ông M, ông S với tổng giá trị 10.802.000 đồng, hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, là hành vi được pháp luật hình sự quy định là tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về Tội Trộm cắp tài sản.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, về nhân thân của bị cáo thì thấy: vào ngày 18/9/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 25/6/2019, do lần phạm tội này bị cáo dưới 18 tuổi được coi là không có án tích; đồng thời, vào ngày 24/12/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố ST ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng hiện đang chấp hành nên cũng cần xem xét về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Trong quá trình điều tra bị hại Phạm Văn S yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 1.644.500 đồng, bị hại Lê Ngọc M yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 5.308.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm luận tội và đề nghị mức hình phạt, áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 48, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 585,586,589 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Kh, phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Kh 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Phạm Văn S số tiền 1.644.500 (một triệu sáu trăm bốn mươi bốn ngàn năm trăm) đồng.
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Lê Ngọc M số tiền 5.308.000 (năm triệu ba trăm lẻ tám ngàn) đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Kh phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 348.000 (ba trăm bốn mươi tám ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với những người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố Sóc Trăng; - CQCSĐT - Công an thành phố Sóc Trăng; - CQTHAHS – Công an thành phố Sóc Trăng; - Chi cục THA Dân sự thành phố Sóc Trăng; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. - Lưu Tòa án thành phố Sóc Trăng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trúc Phƣơng |