vanban.org

Bản án 32/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1 Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc B 09 (chín) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc B - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2021/HS-ST
Ngày: 11/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quý Đôn

Bà Nguyễn Thị Mai Phượng

Bà Trương Ngọc Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông La Quốc Khánh và ông Lê Thanh Đời - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2021/QĐ – TA ngày 25 tháng 10 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 05/5/2003 tại C. Nơi cư trú: KDC N, phường B, quận B, thành phố C; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Ngọc D (không rõ nhân thân) và bà Liên Kim A; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị M và có 01 người con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2020 cho đến nay; Có mặt.

2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1999 tại H. Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện P, tỉnh H; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn G và bà Hà Kim N; có vợ là Phạm Thị Kim L và 01 người con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2020 đến ngày 09/02/2021 được thay đổi biện pháp tạm giam thành Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc B: Luật sư Nguyễn Thanh H – Công ty Luật H, Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc B: Bà Liên Kim A, sinh năm 1957;

Địa chỉ: KDC N, phường B, quận B, thành phố C.

* Người bị hại:

1. Ông Huỳnh Gia B1 (chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Gia B1: Bà Huỳnh Thúy P, sinh năm 1979;

Địa chỉ: đường P, phường A, quận N, thành phố C.

2. Ông Trần Ngọc G, sinh năm 2000;

Địa chỉ: phường A, quận N, thành phố C.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Bến Giá, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Ngọc G: Luật sư Huỳnh Chí T – Công ty Luật H, Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 2001;

Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố C.

* Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1995;

2. Ông Nguyễn Minh M, sinh năm 2003;

3. Ông Nguyễn Huy H1, sinh năm 1984;

4. Ông Trần Thế N, sinh năm 1996;

5. Ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1957;

6. Ông Dương Tuấn D, sinh năm 1984;

7. Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1996;

8. Ông Nguyễn Đức Y, sinh năm 1994;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 18/11/2020, Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Minh M, Trần Thế N và Nguyễn Quốc V đi dự tiệc tại nhà số X đường N, khu dân cư V, phường C, quận N, thành phố C. Đến khoảng 22 giờ, H, M và T điều khiển xe moto về trước (mỗi người chạy một xe), khi đến đoạn đường N, giao lộ với đường C thuộc phường A, quận N, thành phố C thì xe của T xảy ra va chạm với xe moto của hai nam thanh niên không rõ nhân thân dẫn đến đánh nhau. Do bị H, M và T đánh nên hai thanh niên bỏ đi và có lời lẽ thách thức hẹn gặp đánh nhau tại đầu đường Đ, phường A, quận N, thành phố C. Nghe vậy, H, M và T điều khiển xe moto chạy về quán B tại số XX đường Đ, phường A, quận N, thành phố C (do H, M và T đang làm thuê tại quán), trên đường đi, H điện thoại thông báo cho B biết việc vừa xảy ra va chạm giao thông và có thách thức đánh nhau.

Khi về đến quán, M vào phòng ngủ lấy một cây gậy đánh bóng chày (bằng kim loại), một cây gậy ba khúc và nói cho Dương Tuấn D (là quản lý của quán B) biết việc vừa xảy ra va chạm giao thông và có thách thức đánh nhau. Sau đó, M đưa cho H cầm gậy bóng chày và gậy ba khúc rồi kêu H lên xe cùng với T chạy đi tìm hai thanh niên vừa xảy ra cự cãi, thấy vậy D điều khiển xe moto chạy theo sau. Khi đến cổng trường C thuộc phường A, quận N, thành phố C không tìm thấy hai thanh niên nên H, M, T và D trở về quán. Khi về đến quán, D lấy cây gậy ba khúc H đang cầm bỏ vào túi quần. Nguyễn Ngọc B sau khi được H điện thoại báo cho biết vụ việc thì B nói lại cho N, V biết rồi điều khiển xe moto chở Nguyễn Đức Y cùng với N chạy về quán B. Trên đường về quán, B gọi điện cho H và được biết có một nhóm thanh niên đến quán thách thức đánh nhau.

Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, khi đang đứng trước cửa quán B thì H, M và T phát hiện có một nhóm thanh niên khoảng 10 người không rõ nhân thân lai lịch chạy xe moto đến cửa quán và có hành động khiêu khích. Lúc này, B, V, N và Y chạy đến quán B thì thấy D cầm gậy ba khúc rượt đuổi nhóm thanh niên chạy về hướng siêu thị Vinmart tọa lạc tại số XX đường Đ, phường A, quận N, thành phố C. V đậu xe lại và đi qua lấy cây gậy bóng chày của H để tham gia rượt đuổi. B xuống xe và cầm nón bảo hiểm chạy theo sau D tham gia rượt đuổi. Lúc này, H chạy vào bếp tự lấy một cây dao loại dùng để chặt xương (dao có lười bằng kim loại màu trắng dài 21cm, bản nơi rộng nhất là 7.5cm, mũi bằng, cán bằng gỗ màu nâu dài 12.7cm) chạy ra hỗ trợ cho đồng bọn. M vào bếp tự lấy được một cây dao mũi nhọn để làm hung khí, T lấy hai cây dao (cán bằng nhựa dài 11.5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 20cm) cùng tham gia rượt đuổi.

Không đuổi kịp nhóm thanh niên nên B đi trở lại quán B, trên đường đi lại quán thì thấy Huỳnh Gia B1, Trần Ngọc G và Nguyễn Tấn T1 đậu xe trước cửa siêu thị Vinmart nên nghĩ rằng là người cùng nhóm thanh niên đã bỏ chạy. B cầm nón bảo hiểm bằng tay phải chạy đến đánh vào người B1 một cái làm ngã xuống đường và xông tới đạp thêm một cái vào người B1. Lúc này, Việt cầm gậy bóng chày và Thọ hai tay cầm hai cây dao chạy đến chỗ B đang đánh B1. Thấy T cầm dao nên B liền giật lấy một cây dao của T đang cầm trên tay đâm trúng vào ngực trái của B1 một cái khiến B1 nằm gục tại chỗ. Tiếp đó, B xông đến nắm cổ áo rồi dùng tay đánh G hai cái, cùng thời điểm thì H chạy đến phía sau lưng dùng tay phải cầm dao chém hai cái trúng vào lưng, vai của G. Khi H đang vung dao để chém tiếp thì N chạy đến can ngăn.

Trong lúc B và H đánh bị hại thì Nguyễn Huy H (quản lý quán B) hô lên “Lộn người rồi” nên B và H dừng lại không đánh nữa, tất cả về quán B. D lấy lại cây dao của H dùng để chém G cất vào bếp. N lượm cây dao B dùng để đâm B1 rồi đưa cho V, sau đó Vcầm cây dao và gậy bóng chày ném bỏ vào góc tường trước cửa quán. Cây dao còn lại T bị một người trong nhóm giật lấy rồi ném bỏ nên không biết để đâu. M cũng tự ném bỏ cây dao mình vừa sử dụng đánh nhau.

Riêng B1 được Nguyễn Đức Y và Nguyễn Tấn T1 điều khiển xe moto chở B1 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ đến 00 giờ 10 phút ngày 09/11/2020 thì B1 tử vong. Bị hại Trần Ngọc G tự đến Bệnh viện Quân y 121 để điều trị thương tích đến ngày 10/11/2020 thì xuất viện.

Tại Bản Kết luận giám định số 234 ngày 16/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Nạn nhân Huỳnh Gia B1, sinh năm 2002 tử vong do suy hô hấp, suy tuần hoàn, sau vết thương đứt thủng tim, phổi do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Bản Kết luận giám định số 260 ngày 14/12/2020 của Trung tâm pháp y thành phố Cần Thơ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04% (bốn phần trăm). Các vết thương trên cơ thể Trần Ngọc G phù hợp với cơ chế do vật sắc bén gây ra.

Anh Nguyễn Tấn T1 không bị thương tích, anh T1 có đơn từ chối giám định và yêu cầu không xử lý hình sự đối với các đối tượng.

Vật chứng thu giữ: 01 cây dao cán bằng nhựa màu đen dài 11.5cm, ngang nơi rộng nhất là 3cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 20cm, ngang nơi rộng nhất là 2.6cm; 01 cây gậy đánh bóng chày; 01 đồng hồ hiệu “Advocate Health Care”; 01 đồng hồ hiệu “Rolex”; các mảnh thủy tinh và các dấu vết nghi máu. Ngoài ra các đối tượng có giao nộp hung khí và quần áo mặc khi tham gia rượt đuổi và đánh nhóm bị hại.

Tại Kết luận giám định số 03 ngày 22/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận:

- Máu ghi thu của nạn nhân Huỳnh Gia B1 và đối tượng Nguyễn Ngọc B thuộc nhóm máu O;

- Máu ghi thu của bị hại Trần Ngọc G và đối tượng Nguyễn Văn H thuộc nhóm máu B;

- Vết nghi máu thu tại vị trí số 1 hiện trường, trên cây dao thu tại vị trí số 5 tại hiện trường, trên áo, áo khoác và quần của nạn nhân Huỳnh Gia B1 là máu người và thuộc nhóm máu O, trùng nhóm máu với máu của nạn nhân Huỳnh Gia B1 và đối tượng Nguyễn Ngọc B.

- Vết nghi máu thu trên áo của bị hại Trần Ngọc G là máu và thuộc nhóm máu B, trùng nhóm máu với máu của bị hại Trần Ngọc G.

- Trên áo sơ mi của Nguyễn Hữu T, áo thun và quần Jean của Nguyễn Ngọc B có máu người, lượng vết ít không đủ xác định nhóm máu.

- Đồng hồ kim loại màu vàng hiệu Rolex thu tại vị trí số 5 hiện trường, đoạn gậy kim loại thu tại vị trí số 6 hiện trường (gậy bóng chày), con dao do Dương Tuấn D giao nộp, trên áo của Nguyễn Minh M, trên nón bảo hiểm của Nguyễn Ngọc B có dấu vết máu, lượng vết ít không xác định được máu người hay máu vật.

- Trên các mảnh thủy tinh thu tại vị trí số 4 hiện trường, đồng hồ đeo tay bằng nhựa màu đen thu tại vị trí số 2 hiện trường; cây gậy ba khúc, áo thun và quần Jean thu của Dương Tuấn D; áo và quần của Nguyễn Quốc V; áo và quần của Huỳnh Văn K; quần của Nguyễn Hữu T; quần của Nguyễn Minh M; quần và áo của Trần Thế N; áo, quần và giày của Nguyễn Văn H không phát hiện dấu vết máu.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc B đã thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. B thừa nhận cây dao do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu được tại hiện trường chính là hung khí sử dụng để đâm nạn nhân B1. Lời trình bày của B phù hợp với lời trình bày của những người có liên quan, các tài liệu chứng cứ và dấu vết do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được.

Tại Bản Kết luận giám định số 1157 ngày 06/5/2021 của Viện Khoa học hình sự (Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh) kết luận:

1. Không phát hiện thấy dấu vết bị chỉnh sửa, cắt, ghép về nội dung trên tập tin hình ảnh (video) cần giám định ký hiệu A nêu tại mục II.1.

2. Không đủ cơ sở kết luận 07 (bảy) đối tượng người trong hình ảnh mẫu so sánh có xuất hiện trong tập tin video cần giám định ký hiệu A hay không.

3. Không đủ cơ sở kết luận đối tượng đè người, đánh người đang ngồi trên xe moto là giật lấy vật giống con dao hay được người khác đưa cho để đánh nhau.

Tại Bản Kết luận giám định số 119 ngày 30/12/2020 của Trung tâm pháp y thành phố Cần Thơ xác định: Tại thời điểm giám định (ngày 25/12/2020) bị cáo Nguyễn Ngọc B có độ tuổi từ 17 tuổi 06 tháng đến 18 tuổi 00 tháng. Như vậy, thời điểm B dùng dao đâm nạn nhân Huỳnh Gia B1 (ngày 08/11/2020) thì bị cáo B chưa đủ 18 tuổi.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình người bị hại là bà Huỳnh Thúy P (mẹ ruột nạn nhân Huỳnh Gia B1) yêu cầu Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm bồi thường số tiền 95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng) tiền mai táng phí. Bị hại Trần Ngọc G yêu cầu Nguyễn Văn H có trách nhiệm bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí điều trị thương tích. Đến thời điểm hiện tại, đại diện gia đình Nguyễn Ngọc B (bà Liên Kim A) đã khắc phục cho bà P số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), hỗ trợ cho Trần Ngọc G số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Nguyễn Văn H đã bồi thường 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho Trần Ngọc G (bà Đỗ Hồng H là mẹ ruột của Gđại diện nhận). Bà P có đơn xin bãi nại cho bị cáo B và yêu cầu không xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn H.

Đối với hành vi cầm hung khí rượt đuổi người khác của các đối tượng Dương Tuấn D, Nguyễn Minh M, Trần Quốc V và Nguyễn Hữu T xét thấy vụ án xảy ra vào đêm khuya, hành vi của các đối tượng không gây ảnh hưởng đến sinh hoạt cuộc sống của người dân, không gây cản trở giao thông nghiêm trọng, vì vậy, không đặt ra xem xét xử lý về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Đối với Nguyễn Hữu T, qua lời khai của Nguyễn Ngọc B thì T là người đưa cây dao để B đâm bị hại Huỳnh Gia B1. Qua điều tra, đối chất và Kết luận giám định không đủ cơ sở để xác định việc T đưa cây dao cho B. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý hành vi đồng phạm giết người cùng với Nguyễn Ngọc B.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-P2 ngày 11/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Giết người” thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Tại phiên tòa, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Ngọc G cung cấp Đơn xin rút yêu cầu khởi tố (có xác nhận của Trại giam) thể hiện sự tự nguyện của bị hại nên Kiểm sát viên rút 01 phần truy tố đối với Nguyễn Văn H.

Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Ngọc B. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự kết tội bị cáo và xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội; để xử phạt bị cáo từ 08 đến 09 năm tù; ghi nhận tự nguyện thống nhất bồi thường trách nhiệm dân sự; đồng thời, xử lý vật chứng theo quy định.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo (Luật sư Nguyễn Thanh H):

Thống nhất tội danh Viện kiểm sát truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; đồng thời, xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, về nhân thân (có ông ngoại là người có công, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự) và hoàn cảnh gia đình (có vợ và con nhỏ sinh năm 2021) đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, để xử bị cáo mức án không quá 08 năm tù.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Ngọc G (Luật sư Huỳnh Chí T):

Bị hại Trần Ngọc G đã có Đơn xin rút yêu cầu khởi tố. Luật sư là người trực tiếp tiếp xúc với bị hại G để thực hiện sự tự định đoạt, hoàn toàn không có sự ép buộc, cưỡng bức. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư, không có ý kiến bào chữa bổ sung; xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm đoàn tụ gia đình, trở thành công dân tốt trong lời nói sau cùng.

Đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Gia B1 (bà Huỳnh Thúy P) trình bày: sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo đã thăm hỏi và bồi thường 300.000.000 đồng nên không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Về hình sự: vẫn giữ đơn xin bãi nại về giảm hình phạt cho bị cáo B, nhưng đề nghị xem xét mức hình phạt nghiêm khắc hơn Kiểm sát viên đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người liên quan khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

- Đối với Nguyễn Văn H:

Nguyễn Văn H dùng dao (hung khí nguy hiểm) chém trúng vào lưng, vai của Trần Ngọc G gây thương tích 4% (có đơn yêu cầu khởi tố của bị hại G).

Căn cứ Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can số 01 ngày 05/02/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ và Cáo trạng truy tố số 03/CT-VKS-P2 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đối với Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Như vậy, Nguyễn Văn H thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại Trần Ngọc G.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Ngọc G cung cấp Đơn rút yêu cầu khởi tố của G (đơn đề ngày 10/11/2021). Xét thấy: Trần Ngọc G đang chấp hành án (trong vụ án khác) tại Trại giam Bến Giá thuộc huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh ký tên trên Đơn rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H (có xác nhận của Trại giam), không có căn cứ nào khác xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức nên được xác định là ý chí tự định đoạt của bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn H. Kiểm sát viên rút truy tố đối với H là phù hợp.

Tuy nhiên, thương tích gây ra giữa Nguyễn Văn H đối với Trần Ngọc G là có thật. Quá trình tố tụng, bị hại Trần Ngọc G yêu cầu Nguyễn Văn H có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Nguyễn Văn H đã bồi thường xong (có bà Đỗ Hồng H là mẹ ruột của G đại diện nhận). Nên cần thiết ghi nhận sự tự thỏa thuận và thực hiện bồi thường này.

- Đối với Nguyễn Ngọc B:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc B phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 08/11/2020, Nguyễn Ngọc B đã dùng cây dao (loại dao Thái Lan, cán nhựa màu nâu đen dài 11,5cm, ngang nơi rộng nhất là 03 cm, lưỡi dao bằng kim loại có đầu nhọn dài 20cm, ngang nơi rộng nhất là 2,6cm) đâm vào ngực trái Huỳnh Gia B1 dẫn đến tử vong tại trước siêu thị Vinmart (đường Đ, phường A, quận N, thành phố C).

Tại Bản Kết luận giám định số 234 ngày 16/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Huỳnh Gia B1 tử vong do suy hô hấp, suy tuần hoàn, sau vết thương đứt thủng tim, phổi do vật sắc nhọn gây ra.

Việc dùng dao đâm vào ngực trái bị hại, đây được xác định là vùng trọng yếu trên cơ thể dễ dẫn đến chết người, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hậu quả làm bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”.

Chỉ nhằm hỗ trợ nhóm bạn giải quyết mâu thuẫn xuất phát từ việc va chạm xe mô tô khi tham gia giao thông mà bị cáo đã vô cớ dùng dao đâm bị hại (không quen biết, không thuộc nhóm có mâu thuẫn) được xác định là “có tính chất côn đồ” sẵn sàng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực.

Do đó, bị cáo Nguyễn Ngọc B cố ý tước đoạt tính mạng của bị hại trái pháp luật phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ.

Xét thấy: Tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe và khả năng nhận thức. Bị cáo nhâ ̣n thứ c được viê ̣c xâm pha ̣m tính mạng người khác là vi pha ̣m pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiê ̣n. Bị cáo đã vô cớ dùng hung khi nguy hiểm đâm vào ngực trái của bị hại dẫn đến tử vong.́ Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được Luật hình sự bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền là 300.000.000 đồng (phía bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc bị hại có đơn bãi nại về giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có ông ngoại Liên Văn T là người có công với nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu cũng được Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.

Tại Bản Kết luận giám định số 119 ngày 30/12/2020 của Trung tâm pháp y thành phố Cần Thơ xác định: Tại thời điểm giám định (ngày 25/12/2020) Nguyễn Ngọc B có độ tuổi từ 17 tuổi 06 tháng đến 18 tuổi 00 tháng. Như vậy, thời điểm bị cáo B dùng dao đâm bị hại Huỳnh Gia B1 (ngày 08/11/2020) thì bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp này.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng một hình phạt tương xứng để nghiêm trị bị cáo và cách ly ra khỏi đời sống xã hội có thời hạn để bị cáo ăn năn, hối lỗi đối với hành vi phạm tội của mình và thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà an tâm cải tạo, học tập, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội.

Từ những phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt là phù hợp. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo không có căn cứ chấp nhận toàn bộ. Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Trần Ngọc G là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện gia đình người bị hại là bà Huỳnh Thúy P (mẹ ruột nạn nhân Huỳnh Gia B1) yêu cầu Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm bồi thường số tiền 95.000.000 đồng chi phí mai táng. Đại diện gia đình bị cáo B (bà Liên Kim A, mẹ ruột) đã khắc phục cho bà P số tiền 300.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà P không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận bồi thường (đã bồi thường xong) và không đặt ra xem xét gì thêm.

Về xử lý vật chứng:

Cây dao (loại dao Thái Lan), nón bảo hiểm (thu giữ của Nguyễn Ngọc B) là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các mảnh vỡ thủy tinh thu tại vị trí số 4 tại hiện trường (theo biên bản khám nghiệm hiện trường) không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áo, quần, giày của bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có/không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cây dao, gậy ba khúc, gậy bóng chày liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điện thoại di động của Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Văn H, Nguyễn Minh M là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đồng hồ đeo tay có dây và mặt bằng kim loại, ghi hiệu “Rolex” là tài sản cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Văn H.

Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Ngọc B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1 Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc B 09 (chín) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 09/11/2020.

2. Áp dụng: Khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đình chỉ vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy:

/ Cây dao (loại dao Thái Lan), nón bảo hiểm (thu giữ của Nguyễn Ngọc B).

/ Các mảnh vỡ thủy tinh thu tại vị trí số 4 tại hiện trường (theo biên bản khám nghiệm hiện trường);

/ Áo, quần, giày của bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

/ Cây dao, gậy ba khúc, gậy bóng chày.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Điện thoại di động của Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Văn H, Nguyễn Minh M.

+ Trả lại cho Nguyễn Văn H: Đồng hồ đeo tay có dây và mặt bằng kim loại, ghi hiệu “Rolex”.

(Các vật chứng trên theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKS-P2 ngày 11/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ).

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định), để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ