- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân B phạm tội " Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội: “Giết người”. 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HS-ST Ngày 18-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.
Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Nhạc;
Bà Thanh Thị Minh Hiền;
Ông Trương Vĩnh Kỳ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sỹ, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2021 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 và Thông báo hoãn phiên tòa số 10/2021/TB-TA ngày 22 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân B (Tên gọi khác: Kị), sinh ngày 26/3/2004, tại B Thuận.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 22, Khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị Kim M;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Hiện bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: + Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1971; là cha của bị cáo; có mặt. + Bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1974; là mẹ của bị cáo; có mặt. Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố 22, Khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận.
- Người bào chữa chỉ Đ của bị cáo: Bà Phạm Thị Minh H, Luật sư của Văn phòng luật sư Hoàng Cúc, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B Thuận; có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Thái B, sinh năm 1988; đã chết.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: + Ông Trần Văn H, sinh năm 1958; là cha của bị hại B; có mặt. + Bà Phan Thị Kim Hu, sinh năm 1956; là mẹ của bị hại B; có mặt. Cùng nơi cư trú: số nH 108, Xóm 14, Thôn H Thủy 1, xã Chí Công, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu: Bà Nguyễn Thị O, Luật sư của Văn phòng luật sư Đinh Dung, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B Thuận; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Anh Lâm Đ Hy, sinh năm 2004, nơi cư trú tại Dân phố 23, Khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; có mặt. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lâm Đ Hy: Bà Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1970, nơi cư trú tại Khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; là dì của anh Hy; có mặt. + Anh Đỗ Văn L, sinh năm 2004, nơi cư trú tại Dân phố 34, Khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; có mặt. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn L: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1954, nơi cư trú tại Dân phố 34, Khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; là bà ngoại của anh L; có mặt. + Anh Đào Hiếu Tr, sinh năm 2004, nơi cư trú tại Dân phố 34, Khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; có mặt. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đào Hiếu Tr: Bà Hồ Thị Ho, sinh năm 1975, nơi cư trú tại khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; là mẹ của anh Tr; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Trần Thái Đ, sinh năm 1990, nơi cư trú Xóm 14, Thôn H Thủy 1, xã Chí Công, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; có mặt.
+ Ông Phan Văn D, sinh năm 1974, nơi cư trú Xóm 8, Thôn Hiệp Đ 1, xã Chí Công, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 14/9/2020, Nguyễn Xuân B, Lâm Đ Hy, Đỗ Văn L, đang chơi tại nH bạn là Đào Hiếu Tr (thị trấn Phan Rí Cửa, Hyện Tuy Phong, tỉnh B Thuận) thì rủ nhau ra xã Chí Công hái dừa. Trước khi đi, Nguyễn Xuân B cất giấu trong người 01 con dao cán màu đen dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 18cm mũi nhọn, nơi rộng nhất 04cm để chặt dừa ngồi sau xe môtô, biển số 86B1-009.05 do Lâm Đ Hy điều khiển; Đỗ Văn L điều khiển xe máy chở Đào Hiếu Tr chạy trước, cách nhau khoảng 400m, tất cả chạy theo đường ĐT.716 về hướng xã Chí Công. Cùng thời gian trên, Trần Thái B, Trần Thái Đ và Phan Văn D, sau khi dự đám giỗ tại thị trấn Phan Rí Cửa, thì cùng nhau về lại xã Chí Công, Trần Thái B điều khiển xe môtô, biển số 86R2- 2433 chạy trước; Trần Thái Đ chở Phan Văn D chạy sau. Khi gần đến trước Khách sạn Bông Hồng, thuộc thôn Hội Tâm, xã H Minh, Nguyễn Xuân B và Lâm Đ Hy thấy Trần Thái B điều khiển xe môtô, biển số 86R2-2433 chạy cùng chiều nẹt pô vượt lên phía trước và nói gì đó nhưng Hy và Nguyễn Xuân B nghe không rõ nội dung. Tuy không quen biết nhau nhưng Lâm Đ Hy tưởng Trần Thái B cần nói việc gì nên điều khiển xe chở Nguyễn Xuân B chạy vượt lên nhưng ngay sau đó Trần Thái B tiếp tục điều khiên xe vượt lên lại, rồi cúp đầu xe của Hy rồi ngoặc tay làm tín hiệu bảo Hy và Nguyễn Xuân B quay lại. Lúc này Trần Thái B điều khiển xe chạy ngược trở lại hướng về Phan Rí Cửa, thì Hy cũng điều khiển xe chở Nguyễn Xuân B quay lại đuổi theo kịp; Trần Thái B vừa điều khiển xe vừa dùng chân trái đạp vào xe môtô do Hy điều khiển nhưng không trúng do Hy lách tránh được. Nguyễn Xuân B bực tức Hnh động của Trần Thái B nên khi Hy điều khiển xe chạy song song về bên trái xe của Trần Thái B và khi 02 xe cách nhau khoảng 0,50m, thì Nguyễn Xuân B ngồi sau dùng dao đâm 01 nhát vào lưng trái của Trần Thái B làm xe và người ngã ra mép đường bên phải theo hướng Chí Công - Phan Rí Cửa; Trần Thái B đứng dậy loạng choạng đi sang phần đường bên trái. Lâm Đ Hy không biết Nguyễn Xuân B vừa đâm Trần Thái B nên chạy một đoạn 23m20, thì dừng lại; Nguyễn Xuân B xuống xe cầm dao quay lai đưa lên đe dọa Trần Thái B. Lúc này, Trần Thái Đ và Phan Văn D chở nhau chạy đến thấy vậy dừng lại; Nguyễn Xuân B sợ bị đánh nên lên xe cho Lâm Đ Hy điều khiển chở chạy về Phan Rí Cửa; Trần Thái Đ và Phan Văn D điều khiển xe môtô chở nhau đuổi theo nhưng không kịp. Do không thấy xe Lâm Đ Hy chở Nguyễn Xuân B chạy theo nên Đỗ Văn L điều khiển xe máy chở Đào Hiếu Tr quay lại. Khi gần đến trước khách sạn Bông Hồng, thấy Trần Xuân B đang loạng choạng giữa tim đường, Đỗ Văn L và Đào Hiếu Tr không biết người này vừa bị Nguyễn Xuân B đâm vào lưng và tưởng là bị chặn đường nên dừng xe, Đào Hiếu Tr xuống mép đường lượm 02 viên gạch ống cầm trên tay và khi gần đến vị trí Trần Thái B đang đứng, Đào Hiếu Tr ngồi sau ném liên tiếp 02 viên gạch vào người Trần Thái B nhưng không trúng, rồi chở nhau về Phan Rí Cửa. Trần Thái B bị thương nặng, ngã xuống mặt đường được đưa đi cấp cứu, đến ngày 26/9/2020, thì tử vong. Ngày 30/9/2020, từ thông tin trên mạng xã hội Nguyễn Xuân B, Lâm Đ Hy, Đỗ Văn L và Đào Hiếu Tr biết được người bị đâm và bị ngã xe trước Khách sạn Bông Hồng vào tối ngày 14/9/2020 đã chết nên tất cả đến Công an Hyện Tuy Phong đầu thú, khai nhận toàn bộ sự việc. Biên bản khám nghiệm hiện trường do CSGT - Công an Hyện Tuy Phong lập lúc 20 giờ ngày 14/9/2020, tại đường ĐT.716, xã H Minh, Hyện Tuy Phong. Hiện trường còn nguyên vẹn, riêng nạn nhân được đưa đi cấp cứu nhưng để lại xe môtô, biển số 86R2-2433, dấu vết máu, dép, nón bảo hiểm. Hiện trường trong khu vực đường cong, có đèn chiếu sáng công cộng, không có dân cư. Mặt đường rải nhựa bằng phẳng, ướt đọng nước do trời mưa, mặt đường rộng 07m, không có đường phụ. Chọn mép đường phải hướng Chí Công - Phan Rí Cửa làm chuẩn để đo vẽ, như sau: Xe môtô, biển số 86R2-2433 ngã sang trái nằm trên mặt đường, đầu xe quay hơi xéo về hướng Phan Rí Cửa, trục bánh trước cách mép đường l,20m, trục bánh sau trùng với mép đường. Vết máu thứ nhất, kích thước: (0,15 x 0,15)m, nằm trên mặt đường, tâm vết máu cách mép đường 0,40m và cách trụ bánh trước xe môtô, biển số 86R2-2433 là 2,10m, ngay vết máu thứ nhất để lại 01 chiếc dép. Vết máu thứ 2 kích thước: (0,20 x 0,25)m, nằm trên mặt đường, tâm vết máu cách mép đường 2,10m và cách tâm vết máu thứ nhất là 2,50m, ngay vết máu thứ 2 để lại 01 nón bảo hiểm. Kết luận giám Đ pháp y về tử thi số 201/2020/TT ngày 03/11/2020 của Tr tâm giám Đ pháp y tỉnh B Thuận, kết luận nguyên nhân chết của Trần Thái B, như sau: Vết thương vùng lưng trái, thấu ngực, thủng phổi, thủng cơ hoành đã được phẩu thuật khâu phổi, khâu cơ hoành. Nhiều khả năng vết thương do vật sắc, nhọn tạo ra. Chiều hướng vết thương từ sau ra trước. Nguyên nhân chết: Suy đa phủ tạng sau choáng mất máu nặng do vết thương vùng lưng trái thấu ngực, thủng phổi trái, thủng cơ hoành đã được phẫu thuật khâu phổi, khâu cơ hoành -> Tử vong.
Vật chứng:
- 01 cây dao dài 30cm, cán nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi dài 18cm bằng kim loại màu trắng một mặt cắt sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 4cm, đang lưu giữ tại kho vật chứng Cục thi Hnh án dân sự tỉnh B Thuận.
- 01 USB màu trắng - đen, dung lượng 08GB, chứa 02 đoạn video: đoạn 01 dài 13 phút 48 giây, thời gian 19 giờ 26 phút đến 19 giờ 40 phút 05 giây ngày 14/09/2020; đoạn 2 dài 01 phút 12 giây, thời gian từ 19 giờ 27 phút đến 19 giờ 35 phút 50 giây ngày 14/9/2020 ghi lại hình ảnh đánh nhau trước Khách sạn Bông Hồng, thuộc thôn Hội Tâm, xã H Minh, Hyện Tuy Phong, cHyển kèm hồ sơ vụ án.
iL
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Thái B là ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu yêu cầu bồi tHu các khoản gồm: Chi phí cấp cứu tại Bệnh viện Hyện Bắc B là 1.035.270 đồng, chi phí điều trị tại Bệnh viện tỉnh B Thuận là 39.460.145 đồng, chi phí điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy là 13.063.320 đồng và 191.885.726 đồng, tiền thuê xe từ Bệnh viện Hyện Bắc B đến Bệnh viện tỉnh B Thuận 4.000.000 đồng, từ Bệnh viện tỉnh B Thuận đến Bệnh viện Chợ Rẫy 6.000.000 đồng, từ Bệnh viện Chợ Rẫy về nH 6.950.000 đồng, tiền công lao động 02 người nuôi bệnh 7.800.000 đồng (300.000 đồng/ngày x 02 người x 13 ngày), chi phí ăn uống, đi lại cho 02 người nuôi bệnh 5.500.000 đồng, chi phí M táng 114.144.200 đồng (dịch vụ M táng 15.905.000 đ + xây mộ 53.239.200 đ + chi phí đám tang, cúng thất 45.000.000đ), tiền tổn thất tinh thần 149.000.000 đồng. Tiền cấp dưỡng cho vợ chồng ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu là 3.000.000 đồng/người/tháng.
Gia đình Nguyễn Xuân B đã tự nguyện nộp trước để bồi tHu là 20.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKSBT-P1 ngày 26/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Xuân B về tội “Giết người” theo quy Đ tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B từ 12 năm đến 14 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo phải bồi tHu cho người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu theo quy Đ pháp luật; được khấu trừ 20.000.000 đồng do gia đình Nguyễn Xuân B đã bồi tHu. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao dài 30cm, cán nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi dài 18cm bằng kim loại màu trắng một mặt cắt sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 4cm, đang lưu giữ tại kho vật chứng Cục thi Hnh án dân sự tỉnh B Thuận.
- Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Hnh vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xem xét đối với yêu cầu đòi bồi tHu của đại diện bị hại, vì gia đình khó khăn.
- Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh của bị cáo. Bị cáo là người chưa tHnh niên, nhận thức còn hạn chế và không có mục đích giết bị hại nên Hnh vi của bị cáo chỉ cấu tHnh tội cố ý gây thương tích theo quy Đ tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm bị cáo theo quy Đ pháp luật và xem xét vai trò đồng phạm của những người đi cùng bị cáo khi xảy ra vụ án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại: Thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội giết người. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng cố tình thực hiện tội phạm đến cùng và không áp dụng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự nguyện bồi tHu thiệt hại đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ vai trò đồng phạm của Lâm Đ Hy, Đỗ Văn L, Đào Hiếu Tr là những người đi cùng bị cáo khi xảy ra vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ như sau: [1] Về tính hợp pháp của các Hnh vi, quyết Đ tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy Đ về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết Đ tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến Hnh tố tụng. Do đó các Hnh vi, quyết Đ tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến Hnh tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân B khai nhận Hnh vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B Thuận truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 14/9/2020, khi thấy Trần Thái B điều khiển xe môtô có lời nói, Hnh động không B tHu trong khi chạy cùng chiều với xe môtô do Lâm Đ Hy điều khiển chở Nguyễn Xuân B. Lâm Đ Hy nghĩ Trần Thái B cần nói việc gì nên điều khiển xe chở Nguyễn Xuân B chạy vượt lên nhưng ngay sau đó Trần Thái B tiếp tục điều khiển xe vượt lên lại rồi cúp đầu xe của Hy, ngoắc tay làm tín hiệu bảo Hy và Nguyễn Xuân B quay lại. Lúc này Trần Thái B điều khiển xe chạy ngược trở lại hướng về Phan Rí Cửa, thì Hy cũng điều khiển xe chở Nguyễn Xuân B quay lại đuổi theo kịp; Trần Thái B vừa điều khiển xe vừa dùng chân trái đạp vào xe môtô do Hy điều khiển nhưng không trúng do Hy lách tránh được. Nguyễn Xuân B bực tức Hnh động của Trần Thái B nên khi Hy điều khiển xe chạy song song về bên trái xe của Trần Thái B và cách nhau khoảng 0,5m thì Nguyễn Xuân B ngồi sau dùng dao đâm 01 nhát vào lưng trái, thấu ngực, thủng phổi, thủng cơ hoành của Trần Thái B, dẫn đến Trần Thái B tử vong.
Xét thấy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ khi tham gia giao thông nhưng Nguyễn Xuân B sử dụng dao đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại dẫn đến bị hại tử vong nên Hnh vi của Nguyễn Xuân B đã cấu tHnh tội “Giết người” theo quy Đ tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), với tình tiết Đ khung hình phạt có tính chất côn đồ như cáo trạng truy tố là có căn cứ. Việc người bào chữa cho rằng Hnh vi của bị cáo cấu tHnh tội cố ý gây thương tích là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, tại phiên tòa, Nguyễn Xuân B tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Hyện Tuy Phong đầu thú, gia đình đã tự nguyện nộp tiền bồi tHu một phần thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy Đ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự nguyện bồi tHu là không có cơ sở, vì pháp luật không quy Đ tỷ lệ bồi tHu so với thiệt hại thực tế bao nhiêu thì được áp dụng quy Đ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Và việc bồi tHu nhiều hay ít là cơ sở để xem xét mức độ giảm nhẹ khi quyết Đ hình phạt; Đối với đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” cũng không có cơ sở, vì sau khi bị cáo đâm bị hại. Bị cáo có xuống xe nhưng chưa có Hnh vi tiếp tục đâm bị hại thì bị cáo bỏ đi. [4] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét thấy Hnh vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Tuy nhiên, khi phạm tội Nguyễn Xuân B chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng những quy Đ tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quyết Đ hình phạt, đồng thời bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. [5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu là người thân thích thuộc Hng thừa kế thứ nhất của bị hại, ngoài ra không còn ai khác thuộc Hng thừa kế thứ nhất. Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 591, Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; mục 1, 2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của người đại diện bị hại đối với các yêu cầu bồi tHu: Chi phí cấp cứu tại Bệnh viện Hyện Bắc B là 1.035.270 đồng, chi phí điều trị tại Bệnh viện tỉnh B Thuận là 39.460.145 đồng, chi phí điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy là 204.949.046 đồng, tiền thuê xe 16.950.000 đồng, chi phí hợp lý cho 01 người chăm sóc 2.750.000 đồng, thu nhập thực tế bị mất của 01 người chăm sóc 3.900.000 đồng (300.000 đồng/ngày x 01 người x 13 ngày), tiền tổn thất tinh thần là 100 lần mức lương cơ sở với số tiền 149.000.000 đồng. Đối với chi phí M táng 114.144.200 đồng (dịch vụ M táng 15.905.000 đồng + xây mộ 53.239.200 đồng + chi phí lo đám tang, ma chay, cúng thất 45.000.000 đồng). Theo quy Đ tại tiểu mục 2.2 mục 2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ … là không được chấp nhận. Tuy nhiên, xét phong tục tập quán tại địa phương khi tổ chức M táng có tiến Hnh một số tập tục nhất Đ và việc chi phí là có thật, vì vậy chấp nhận một phần yêu cầu của người đại diện bị hại về chi phí M táng với số tiền là 70.000.000 đồng, trong đó chi phí dịch vụ M táng 15.905.000 đồng + xây mộ 35.000.000 đồng + chi phí lo đám tang 19.095.000 đồng).
Tổng cộng số tiền được chấp nhận là 488.044.461 đồng. Do số tiền lẻ đến 461 đồng sẽ không thi Hnh án được nên cần làm tròn là 488.044.000 đồng.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng/người cho ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu là cha mẹ của bị hại. Ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu có 07 người con đã tHnh niên (bị hại là con thứ 7), theo quy Đ khoản 2 Điều 71 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Ông H và bà Hu không thuộc trường hợp không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình; khi bị hại còn sống cũng không đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông H và bà Hu. Căn cứ tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của ông H và bà Hu.
Gia đình Nguyễn Xuân B đã tự nguyện nộp tiền bồi tHu là 20.000.000 đồng vào tài khoản Cục Thi Hnh án dân sự tỉnh B Thuận tại Kho bạc NH nước B Thuận, nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi Hnh án.
[6] Về năng lực chịu trách nhiệm bồi tHu thiệt hại
Thời điểm phạm tội, bị cáo Nguyễn Xuân B trên 15 tuổi nhưng chưa đủ mười tám tuổi. Theo khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy Đ “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi tHu bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi tHu thì cha, mẹ phải bồi tHu phần còn thiếu bằng tài sản của mình”. Vì vậy, trường hợp bị cáo Nguyễn Xuân B không đủ tài sản để bồi tHu thì ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị Kim M phải bồi tHu phần còn thiếu cho ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu.
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao dài 30cm, cán nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi dài 18cm bằng kim loại màu trắng một mặt cắt sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, đang lưu giữ tại kho vật chứng Cục thi Hnh án dân sự tỉnh B Thuận.
[8] Về vai trò của Lâm Đ Hy, Đỗ Văn L, Đào Hiếu Tr:
- Lâm Đ Hy là người điều khiển xe chở Nguyễn Xuân B nhưng trước khi đi không biết Nguyễn Xuân B có đem theo dao và không biết Nguyễn Xuân B đã dùng dao đâm Trần Thái B trong khi điều khiển xe áp sát xe Trần Thái B. Nguyễn Xuân B cũng trình bày việc mang theo dao khi đi cùng Lâm Đ Hy không có ai biết, khi Hy điều khiển xe chở B chạy theo xe Trần Thái B thì Nguyễn Xuân B cũng không nói hoặc có Hnh vi gì thể hiện ý chí yêu cầu Hy áp sát xe để đâm Trần Thái B. Vì vậy, không đủ căn cứ để xem xét xử lý Lâm Đ Hy với vai trò đồng phạm với Nguyễn Xuân B.
- Đỗ Văn L và Đào Hiếu Tr đi cùng một xe, chạy trước, không chứng kiến mâu thuẫn xảy ra giữa Lâm Đ Hy, Nguyễn Xuân B với Trần Thái B và cũng không thấy Nguyễn Xuân B đâm Trần Thái B; Cho đến khi không thấy Lâm Đ Hy và Nguyễn Xuân B chạy theo nên quay lại mới thấy Trần Thái B đứng giữa đường, sợ bị chặn đánh nên dừng xe nhặt gạch ống và khi chạy ngang qua Trần Thái B thì có ném nhưng không trúng. Vì vậy, không đủ căn cứ để xem xét xử lý Đỗ Văn L và Đào Hiếu Tr với vai trò đồng phạm với Nguyễn Xuân B. Do đó không có cơ sở chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung xác Đ vai trò đồng phạm của Lâm Đ Hy, Đỗ Văn L và Đào Hiếu Tr. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với số tiền phải bồi tHu (sau khi đã trừ số tiền tự nguyện nộp bồi tHu 20.000.000 đồng); Người đại diện của bị hại được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi tHu không được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội: “Giết người”. 1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt. 2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 2 Điều 586, Điều 590, Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015.
- Buộc bị cáo Nguyễn Xuân B phải bồi tHu cho ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu tổng số tiền là 488.044.000 đồng (Bốn trăm tám mươi tám triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), trong đó: Chi phí cấp cứu tại Bệnh viện Hyện Bắc B là 1.035.270 đồng, chi phí điều trị tại Bệnh viện tỉnh B Thuận là 39.460.145 đồng, chi phí điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy là 204.949.046 đồng, chi phí thuê xe 16.950.000 đồng, chi phí hợp lý cho 01 người chăm sóc 2.750.000 đồng, thu nhập thực tế bị mất của 01 người chăm sóc 3.900.000 đồng (300.000 đồng/ngày x 01 người x 13 ngày), chi phí M táng là 70.000.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần là 149.000.000 đồng.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Xuân B không đủ tài sản để bồi tHu thì ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị Kim M phải bồi tHu phần còn thiếu cho ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Hnh án của người được thi Hnh án cho đến khi thi Hnh xong, bên phải thi Hnh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi Hnh án theo mức lãi suất quy Đ tại điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng do gia đình bị cáo Nguyễn Xuân B nộp theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/01/2021 tại Kho bạc NH nước B Thuận để đảm bảo thi Hnh án.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu đòi bồi tHu chi phí M táng 44.144.200 đồng; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của 01 người chăm sóc 6.650.000 đồng; tiền cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng/người.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 30cm, cán nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi dài 18cm bằng kim loại màu trắng một mặt cắt sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, đang lưu giữ tại Cục thi Hnh án dân sự tỉnh B Thuận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2021.
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban THu vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Xuân B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 22.722.000 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Văn H và bà Phan Thị Kim Hu được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết Đ được thi Hnh theo quy Đ tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án dân sự, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy Đ tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy Đ tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự. Bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 18/5/2021). Nơi nhận:
| - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh B Thuận; - Phòng PC 01, 02 - Công an tỉnh; - Phòng PV 06 - Công an tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh B Thuận; - Cục THADS tỉnh B Thuận; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Đức Hùng |