vanban.org

Bản án 32/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Nữ Thu H đối với ông Võ Ngọc T.

Về hôn nhân: Xử cho bà Tôn Nữ Thu H ly hôn với ông Võ Ngọc T. Về con chung: Tiếp tục giao người con chung tên Võ Ngọc Bảo A, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2019, giới tính nữ, cho bà Tôn Nữ Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tôn Nữ Thu H - Võ Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Nữ Thu H đối với ông Võ Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 32/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 9 - 2021
“V/v tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Nguyệt.

Ông Nguyễn Văn Lên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2021 về việc “tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tôn Nữ Thu H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp O, xã B, thị xã K, tỉnh L (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Võ Ngọc T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp O, xã B, thị xã K, tỉnh L (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn của bà Tôn Nữ Thu H và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn bà Tôn Nữ Thu H trình bày: Vào năm 2018 bà với ông T tìm hiểu, thương yêu nhau và tiến hành tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã K, hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc không bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Từ đó, tình cảm vợ chồng rạn nứt và lạnh nhạt nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay bà với ông T đã sống ly thân nên không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con chung. Vì vậy, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T trả tự do cho nhau.

Về con chung: Trong thời gian vợ chồng bà H, ông T chung sống có người con chung tên Võ Ngọc Bảo A, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2019, giới tính nữ, hiện nay bà trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Bà H xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H cam kết không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nhận được đơn khởi kiện của bà Tôn Nữ Thu H Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã ra Thông báo về việc thụ lý vụ án số 81/TB-TLVA ngày 01/7/2021; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 41/TB-TA ngày 01/7/2021 đã tống đạt hợp lệ cho ông T theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố Tụng dân sự. Sau khi tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì bà H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Tôn Nữ Thu H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp O, xã B, thị xã K, tỉnh L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Võ Ngọc T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp O, xã B, thị xã K, tỉnh L. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bà H và ông T theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố Tụng dân sự nhưng vì sự kiện bất khả kháng (dịch Covid-19) nên hoãn phiên tòa. Sau khi có quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt cho bà H và ông T, tuy nhiên bà H và ông T hai người đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà H và ông T là phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Tôn Nữ Thu H với ông Võ Ngọc T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã K. Đây là hôn nhân hợp pháp nên Tòa án thụ ký giải quyết là phù hợp với với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Tôn Nữ Thu H xác định không còn tình nghĩa vợ chồng với ông Võ Ngọc T, không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng của bà H với ông T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thương yêu, quí trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện tại hai người đã sống ly thân. Vì vậy, cần xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tôn Nữ Thu H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời gian vợ chồng bà H, ông T chung sống có người con chung tên Võ Ngọc Bảo A, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2019, giới tính nữ, hiện nay bà H trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, tuy nhiên người con chung tên Võ Ngọc Bảo A, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2019 dưới 36 tháng tuổi. Do đó, cần tiếp tục giao cho bà Tôn Nữ Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con hàng tháng theo quy định của pháp luật, thời gian cấp dưỡng từ khi ly hôn đến khi người con chung tròn 18 tuổi. Xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con là do hai bên thỏa thuận, tuy nhiên hai bên không thỏa thuận được nên theo quy định của pháp luật mức cấp dưỡng bằng ½ mức lương tối thiểu là 745.000 đồng. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà H buộc ông Võ Ngọc T phải thực hiện nghĩa vụ việc cấp dưỡng nuôi người con chung hàng tháng, mỗi tháng 745.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9 năm 2021 đến khi người con chung tên Võ Ngọc Bảo A tròn 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Bà H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà H cam kết không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bị đơn ông Võ Ngọc T khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, ông T có văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với bà H, còn con chung ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Võ Ngọc Bảo A, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con, xét thấy cháu Võ Ngọc Bảo A dưới 36 tháng tuổi. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông T là phù hợp với khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều, điểm c khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bà Tôn Nữ Thu H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm, ông Võ Ngọc T phải chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5, điểm c khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Nữ Thu H đối với ông Võ Ngọc T.

Về hôn nhân: Xử cho bà Tôn Nữ Thu H ly hôn với ông Võ Ngọc T.

Về con chung: Tiếp tục giao người con chung tên Võ Ngọc Bảo A, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2019, giới tính nữ, cho bà Tôn Nữ Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Võ Ngọc T phải thực hiện nghĩa vụ việc cấp dưỡng nuôi người con chung tên Võ Ngọc Bảo A hàng tháng, mỗi tháng 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm ngàn đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9 năm 2021 (dương lịch) đến khi cháu Võ Ngọc Bảo A tròn 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí:

Buộc bà Tôn Nữ Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0009710 ngày 30/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Bà Tôn Nữ Thu H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Buộc ông Võ Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bà H và ông T biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ