- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận chị H và anh Đ là vợ chồng"
- Tòa quyết gì? 39, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HNGĐ-ST Ngày 09/8/2021 V/v: “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ , TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngô Phiên
Ông Lục Viết Sang
Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Yên Thế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế , tỉnh Bắc Giang tham
gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 09/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc
Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2021/TLST-HNGĐ ngày 19/4/2021 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thi H, sinh năm 1984
- Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1982
Cùng địa chỉ: thôn HL, xã A, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. (chị H
đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị Hoàng Thị H trình bày: Chị và
anh Trần Văn Đ kết hôn năm 2003 trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A nhưng nay không còn lưu giữ giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2013 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng tính cách, quan điểm sống, anh Đ ham chơi nên không quan tâm chị, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Anh chị đã ly thân từ tháng 4/2021 đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh Đ không còn, chị yêu cầu ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là Trần Đức K, sinh ngày
27/10/2004 và Trần Hoàng Đức H, sinh ngày 07/8/2017. Hiện nay cả hai con chung đều khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng anh chị. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu K, chị đề nghị Tòa án giao cháu H cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
- Tại bản tự khai anh Trần Văn Đ trình bày: Anh và chị H kết hôn năm
2003 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Yên Thế. Quá trình chung sống, anh chị hòa thuận, hạnh phúc. Khoảng vài năm trở lại đây do anh ham chơi đã không quan tâm đến gia đình. Chị H cảm thấy mệt mỏi vì gánh nặng gia đình mà anh lại ít quan tâm chia sẻ dẫn đến chị H làm đơn yêu cầu ly hôn. Anh xác định anh chị có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn. Trường hợp chị H kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Trần Đức K, sinh ngày
27/10/2004 và Trần Hoàng Đức H, sinh ngày 07/8/2017. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu H và đồng ý giao cháu K cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận và không đề nghị
Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh đối với Ủy ban nhân dân xã A, huyện Yên Thế
cho biết: Qua tra cứu sổ sách được lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã A thì không có tài liệu nào xác định việc chị Hoàng Thị H có đăng ký kết hôn với anh Trần Văn Đ.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị Hoàng Thị H và anh Trần Văn Đ là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu H cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu K cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: không giải quyết. Buộc chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng: chị H nộp đơn yêu cầu ly hôn anh
Đ, có địa chỉ tại thôn HL, xã A, huyện Yên Thế. Tòa án nhân dân huyện Yên Thế thụ lý giải quyết vụ án “tranh chấp hôn nhân và gia đình” là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, chị H vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
anh Đ được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H và anh Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh Đ tự nguyện chung sống như vợ
chồng với nhau từ năm 2003, theo anh chị trình bày thì anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A năm 2003 nhưng anh chị đều không xuất trình được đăng ký kết hôn. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã A được biết qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn thì không có tài liệu nào thể hiện anh Đ và chị H đăng ký kết hôn. Do vậy, không có căn cứ xác định chị H và anh Đ có đăng ký kết hôn. Việc anh chị chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình. Quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn do anh Đ ham chơi không quan tâm gia đình, không chia sẻ công việc gia đình với chị H dẫn đến vợ chồng cãi vã, bất đồng quan điểm. Qua xác minh tại địa phương được biết anh chị cũng mâu thuẫn như trên. Anh chị đã ly thân từ tháng 4/2021 cho đến nay. Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng và yêu cầu ly hôn anh Đ, anh Đ mặc dù xác định còn tình cảm vợ chông nhưng anh không có cách nào khuyên nhủ chị H về đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy: anh chị không có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nay chị H yêu cầu ly hôn. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH ngày 09/6/2000, HĐXX xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hoàng Thị H và anh Trần Văn Đ.
Về con chung: Chị H và anh Đ có hai con chung là Trần Đức K,
sinh ngày 27/10/2004 và Trần Hoàng Đức H, sinh ngày 07/8/2017. Khi ly hôn chị H và anh Đ đều đề nghị giao cháu K cho chị H nuôi, giao cháu H giao cho anh Đ nuôi. Cháu K có nguyện vọng ở cùng chị H khi bố mẹ cháu ly hôn. Qua xác minh được biết hiện nay chị H đang làm nghề bán hàng quần áo, anh Đ làm tự do cũng có khả năng nuôi con. Để phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của anh Đ, chị H, cháu K, phù hợp với khả năng nuôi dưỡng con của anh Đ và chị H, Hội đồng xét xử cần giao cháu K cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh Đ không yêu cầu nên Tòa án
không xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Chị H và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và
gia đình;
Điểm c mục 3 của Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2010
của Quốc hội;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14,ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị
Hoàng Thị H và anh Trần Văn Đ.
2. Về con chung: Giao giao cháu Trần Đức K, sinh ngày 27/10/2004
cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Hoàng Đức H, sinh ngày 07/8/2017 cho anh Trần Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, anh Đ, chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung
anh chị không trực tiếp nuôi mà không ai được cản trở anh Đ, chị H thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
3. Về tài sản, công nợ: Tòa án không giải quyết.
4. Về tiền án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tại biên lai số AA/2018/0004721 ngày 13/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Yên Thế; - CCTHADS huyện Yên Thế; - UBND xã A; - Các đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thế Đăng |