vanban.org

Bản án 32/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 203, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 235 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc Hội. Tuyên xử:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, bị đon ông Dương Văn P"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 203, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 235 Bộ Luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 32/2021/HNGĐ - ST.
Ngày: 30/6/2021.
“V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trường.

- Các hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Ngô Văn Tuyển. Chức vụ: Cán bộ hưu trí xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

2/. Bà Nguyễn Thị Lan. Chức vụ: Giáo viên hưu trí thị trấn Phước An, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bình.

Là: Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thuỳ Nguyên. Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 30/6/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 56/2021/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 02 năm 2021. Về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2021. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L. Sinh năm: 1964 Địa chỉ: Thôn 19, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Dương Văn P.

Sinh năm: 1964 Địa chỉ: Thôn 19, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

(Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2021, tại bản tự khai ngày 15/3/2021, trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình về chung sống với ông Dương Văn P từ năm 1990 đến nay, trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi về chung sống với nhau cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, cho đến năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống bất đồng quan điểm với nhau, không tin tưởng nhau về chuyện tình cảm, vì vậy vợ chồng thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau và sống ly thân với nhau từ tháng 11/2020 cho đến nay không còn quan tâm hay chăm sóc gì với nhau.

Xét thấy tình cảm giữa tôi và ông P không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vì vậy tôi có nguyện vọng về tình cảm là yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để không công nhận tôi và ông Dương Văn P là vợ chồng.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống tôi và ông P có 02 (Hai) con chung, các cháu tên là Dương Thị L, sinh ngày 20/4/1991 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 20/4/1992.

Nguyện vọng về con chung: Hiện nay 02 (Hai) con chung của chúng tôi đều đã thành niên, đã có gia đình riêng và đã sống tự lập được, vì vậy tôi không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Tôi và ông Dương Văn P tự thỏa thuận giải quyết, vì vậy tôi không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 21/5/2021, trong quá trình hoà giải bị đơn ông Dương Văn P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình về chung sống với bà Nguyễn Thị L từ năm 1990 cho đến nay trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi về chung sống với nhau cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, cho đến năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tôi và bà L sống bất đồng quan điểm với nhau, không tin tưởng nhau về chuyện tình cảm, vì vậy tôi và bà L thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau, không còn quan tâm hay chăm sóc gì với nhau.

Nay bà L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để không công nhận bà L và tôi là vợ chồng thì tôi cũng có nguyện vọng về tình cảm là yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để không công nhận tôi và bà Nguyễn Thị L là vợ chồng.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống tôi và bà Nguyễn Thị L có 02 (Hai) con chung, các cháu tên là Dương Thị L, sinh ngày 20/4/1991 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 20/4/1992.

Nguyện vọng về con chung: Hiện nay 02 (Hai) con chung của chúng tôi đều đã thành niên, đã có gia đình riêng và đã sống tự lập được, vì vậy tôi không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Tôi và bà Nguyễn Thị L tự thỏa thuận giải quyết, vì vậy tôi không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

Qua quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện của mình.

Bị đơn ông Dương Văn P vắng mặt, có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình về chung sống với nhau từ năm 1990 cho đến nay trên cơ sở tình yêu tự nguyện, nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều có nguyện vọng yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P là vợ chồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc Hội để chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P là vợ chồng.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P có 02 (Hai) con chung, các cháu tên là Dương Thị L, sinh ngày 20/4/1991 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 20/4/1992. Hiện nay 02 (Hai) con chung của bà L và ông P đều đã thành niên và đã sống tự lập được. Bà L và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không yêu cầu Hội đồng xét xử đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không yêu cầu Hội đồng xét xử đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đề ngày 23/02/2021, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các bên đương sự, bị đơn ông Dương Văn P có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Dương Văn P.

- Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình về chung sống với nhau từ năm 1990 cho đến nay trên cơ sở tình yêu tự nguyện, nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án bà L và ông P đều có nguyện vọng yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc Hội để chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P là vợ chồng.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P có 02 (Hai) con chung, các cháu tên là Dương Thị L, sinh ngày 20/4/1991 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 20/4/1992.

Hiện nay 02 (Hai) con chung của bà L và ông P đều đã thành niên và đã sống tự lập được. Bà L và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ quan điểm của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 203, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 235 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc Hội.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P là vợ chồng.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P có 02 (Hai) con chung, các cháu tên là Dương Thị L, sinh ngày 20/4/1991 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 20/4/1992. Hiện nay 02 (Hai) con chung của bà L và ông P đều đã thành niên và đã sống tự lập được. Bà L và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Bà Nguyễn Thị L và ông Dương Văn P tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0017812, ngày 24/02/2021.

[5] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn ông Dương Văn P (Vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ