vanban.org

Bản án 32/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và Phát triển V.

Về số tiền nợ và nghĩa vụ trả nợ: Buộc bị đơn anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V tổng số tiền tính đến ngày 26/10/2021 là 77.339.973 đồng, trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi trong hạn là 13.200.000 đồng, lãi quá hạn là … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án DSST giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V - bị đơn Trần Văn H2, Chu Thị Diễm TH"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và Phát triển V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2021/DS-ST
Ngày: 26 - 10 - 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng tín
dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Công Đạt.

2. Ông Y Mưng Niê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2020/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2021 về: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-DS, ngày 08 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V.

Địa chỉ trụ sở chính: Tháp B, A3 Hàng Vôi, quận H, thành phố H1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng).

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

- Đơn vị được ủy quyền khởi kiện: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V – Chi nhánh B. Do ông Nông Hà H2– Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh B là người đại diện (Theo quyết định số 804/QĐ-BIDV ngày 22/8/2019 của người đại diện theo pháp luật).

- Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Trần Văn L – chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch P - Chi nhánh B.

Địa chỉ: Quốc lộ N, xã Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk – có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH.

Cùng địa chỉ: Thôn HL, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt (anh H2 vắng mặt không có lý do, chị TH có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/12/2020, quá trình tham gia tố tụng, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn trình bày:

- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V – Chi Nhánh B – Phòng giao dịch P có ký kết hợp đồng tín dụng số 01/2018/8311471/HĐTD ngày 06/02/2018 với vợ chồng anh H2, chị TH (Chị TH ủy quyền cho anh H2 ký kết giao dịch với Ngân hàng theo Giấy ủy quyền ngày 29/02/2016). Ngân hàng đã cho vay và giải ngân số tiền vay là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), anh H2, chị TH đã nhận đủ số tiền vay. Thời hạn vay là 12 tháng, ngày đến hạn là ngày 06/02/2019, với mức lãi vay trong hạn là 11%/năm, mục đích vay là để đầu tư chăm sóc cà phê, trồng tiêu và mua thiết bị sản xuất, thỏa thuận về mức lãi suất quá hạn đối với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là 10%/năm. Ngoài ra hợp đồng còn thỏa thuận về phạt vi phạm các điều khoản cụ thể khác.

Đến nay khoản vay của vợ chồng anh H2, chị TH đã quá hạn trả nợ, tính đến ngày 17/12/2020 vợ chồng anh H2, chị TH còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 68.758.543 đồng, trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi trong hạn là 11.632.876 đồng, lãi quá hạn 7.125.667 đồng. Theo đơn khởi kiện Ngân hàng yêu cầu anh H2, chị TH phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ nêu trên. Yêu cầu anh H2, chị TH phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/12/2020 đến khi anh H2, chị TH thanh toán xong toàn bộ dư nợ gốc 50.000.000 đồng cho Ngân hàng, theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, theo hướng yêu cầu anh H2, chị TH phải trả tổng số tiền tính đến ngày xét xử vụ án (ngày 26/10/2021) là 77.339.973 đồng, trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn là 13.200.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 14.139.973 đồng. Yêu cầu anh H2, chị TH phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/10/2021 đến khi anh H2, chị TH thanh toán xong toàn bộ dư nợ gốc 50.000.000 đồng cho Ngân hàng, theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.

Về tài sản thế chấp về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Ngân hàng và anh H2, chị TH đã ký kết hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/8311471/HĐBĐ ngày 29/02/2016.

Khi vay vợ chồng anh H2, chị TH có thế chấp cho Ngân hàng 01 quyền sử dụng đất của thửa đất số 120, tờ bản đồ số 19, diện tích 1917,7m2, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 506608, cấp ngày 14/01/2014, mang tên anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH.

Ngân hàng yêu cầu trong trường hợp anh H2, chị TH không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ. Trường hợp anh H2, chị TH trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho anh H2, chị TH.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu anh H2, chị TH phải hoàn trả cho Ngân hàng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 800.000 đồng mà Ngân hàng đã nộp tạm ứng.

Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn chị Chu Thị Diễm TH trình bày:

Tôi và chồng tôi có ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V – Chi Nhánh B – Phòng giao dịch P, chúng tôi đã thống nhất thỏa thuận và có ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 01/2018/8311471/HĐTD ngày 06/02/2018 (tôi ủy quyền cho anh H2 theo giấy ủy quyền ngày 29/02/2016 để giao dịch với Ngân hàng), số tiền vay tại Ngân hàng là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), chúng tôi đã nhận đủ số tiền vay. Thời hạn vay là 12 tháng, ngày đến hạn là ngày 06/02/2019, với mức lãi vay là 11%/năm, mục đích vay là để đầu tư chăm sóc cà phê, trồng tiêu và mua thiết bị sản xuất, thỏa thuận về mức lãi suất chậm trả, phạt vi phạm theo hợp đồng nêu trên.

Tính đến nay vợ chồng tôi chưa trả được khoản nợ gốc cho Ngân hàng, còn lãi đã trả được 4.113.699 đồng. Nên theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng tính đến ngày 17/12/2020 và đến nay vợ chồng tôi còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi trong hạn là 11.632.876 đồng, tiền lãi quá hạn 7.125.667 đồng là đúng. Tôi đồng ý sẽ có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 17/12/2020 là 68.758.543 đồng. Đồng ý tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 17/12/2020 cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.

Về tài sản thế chấp: Khi vay vợ chồng tôi có thế chấp cho Ngân hàng 01 quyền sử dụng đất của thửa đất số 120, tờ bản đồ số 19, diện tích 1917,7m2, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 506608, cấp ngày 14/01/2014, mang tên chồng tôi Trần Văn H2 và tôi Chu Thị Diễm TH. Thửa đất nêu trên được chúng tôi thế chấp cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/8311471/HĐBĐ ngày 29/02/2016.

Nay do hoàn cảnh khó khăn không có tiền trả nợ cho Ngân hàng nên tôi đồng ý trong trường hợp vợ chồng tôi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì tôi đồng ý cho Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là thửa đất nêu trên để Ngân hàng thu hồi nợ.

Tôi xin cam đoan hiện tại tài sản thế chấp nêu trên vẫn do chúng tôi là người quản lý, sử dụng, không có tranh chấp, chuyển nhượng, tặng cho … với bất kỳ ai khác.

Tôi không có yêu cầu phản tố mặc dù đã được Thẩm phán giải thích theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Trần Văn H2 là chồng chị Chu Thị Diễm TH đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Giấy báo tham gia tố tụng, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Trần Văn H2 vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu quan điểm:

Về tuân theo thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn chị Chu Thị Diễm TH đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Văn H2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn H2 là đúng quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định anh H2, chị TH đã ký kết hợp đồng tín dụng để vay vốn, ký hợp đồng thế chấp bất động sản. Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ anh H2, chị TH không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi phát sinh là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn anh H2, chị TH phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc, lãi phát sinh tính đến ngày xét xử. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, tiền án phí: Đề nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, ý kiến trình bày của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ pháp luật, thủ tục tố tụng dân sự:

Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng đã tuân thủ, thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn chị TH đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn anh Trần Văn H2 mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 mà không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H2 là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng trong vụ án là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuoäc thaåm quyeàn giaûi quyeát cuûa Toøa aùn nhaân dân huyện Krông Búk theo quy ñònh taïi khoản 3 Điều 26, ñieåm a khoản 1 Ñieàu 35, ñieåm a khoản 1 Ñieàu 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Veà yeâu caàu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc và lãi suất tính đến ngày xét xử vụ án:

Căn cứ hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh, đầu tư, hợp đồng tín dụng số 01/2018/8311471/HĐTD, ngày 06/02/2018 đã được ký kết, sự thừa nhận của chị TH đã đủ căn cứ xác định, Ngân hàng đã cho anh H2, chị TH vay số tiền 50.000.000 đồng, anh H2, chị TH đã nhận đủ số tiền vay. Thời hạn vay là 12 tháng, ngày đến hạn là ngày 06/02/2019, với mức lãi vay trong hạn là 11%/năm, mục đích vay là để đầu tư chăm sóc cà phê, trồng tiêu và mua thiết bị sản xuất, thỏa thuận về mức lãi suất quá hạn, lãi chậm trả đối với lãi suất chậm trả, phạt vi phạm theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Việc thỏa thuận, ký kết Hợp đồng tín dụng là có thật, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tính đến ngày 17/12/2020, anh H2 và chị TH còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 68.758.543 đồng, trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi trong hạn là 11.632.876 đồng, lãi quá hạn là 7.125.667 đồng. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng anh H2, chị TH không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi khi đến hạn như đã cam kết trong Hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, theo hướng yêu cầu anh H2, chị TH phải trả tổng số tiền tính đến ngày xét xử vụ án (ngày 26/10/2021) là 77.339.973 đồng, trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn là 13.200.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 14.139.973 đồng. Yêu cầu anh H2, chị TH phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/10/2021 đến khi anh H2, chị TH thanh toán xong toàn bộ dư nợ gốc 50.000.000 đồng cho Ngân hàng, theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng là phù hợp quy định tại các Điều 71, Điều 243, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên cần chấp nhận.

Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn:

Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/8311471/HĐBĐ ngày 29/02/2016, giữa Ngân hàng và anh H2, chị TH được ký kết trên cơ sở tự nguyện, được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của thửa đất số 120, tờ bản đồ số 19, diện tích 1917,7m2, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 506608, cấp ngày 14/01/2014, mang tên anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH. Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì thửa đất nêu trên có hiện trạng phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, không có tranh chấp. Do đó, Ngân hàng yêu cầu trong trường hợp anh H2, chị TH không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.

Trường hợp anh H2, chị TH trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 506608 cho anh H2 và chị TH là phù hợp.

Về chị phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 800.000 đồng, đã chi phí xong, do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên cần buộc anh H2, chị TH hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 800.000 đồng là phù hợp.

Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên cần buộc bị đơn anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 317, 318, 320, 322, 323, 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và Phát triển V.

- Về số tiền nợ và nghĩa vụ trả nợ: Buộc bị đơn anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V tổng số tiền tính đến ngày 26/10/2021 là 77.339.973 đồng, trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi trong hạn là 13.200.000 đồng, lãi quá hạn là 14.139.973 đồng.

Buộc bị đơn anh Trần văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 27/10/2021 đến khi anh H2, chị TH trả xong nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển V, với mức lãi suất theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 01/2018/8311471/HĐTD, ngày 06/02/2018.

- Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp bị đơn anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và Phát triển V thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp thế chấp bất động sản số 01/2016/8311471/HĐBĐ, ngày 29/02/2016, xử lý đối với các tài sản thế chấp là:

- Quyền sử dụng đất của thửa đất số 120, tờ bản đồ số 19, diện tích 1917,7m2, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đã được Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 506608, cấp ngày 14/01/2014, mang tên anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH.

- Trong trường hợp bị đơn anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và Phát triển V có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 506608 cho Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

- Buộc bị đơn anh Trần Văn H2 và chị Chu Thị Diễm TH phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển V số tiền 800.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

- Về án phí: Buộc bị đơn anh Trần Văn H2, chị Chu Thị Diễm TH phải chịu 3.866.998 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển V số tiền 1.719.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0018540 ngày 25/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Về quyền kháng cáo: Nguyeân ñôn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn coù quyeàn khaùng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ