vanban.org

Bản án 32/2021/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 14/09/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 164; khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố Tụng Dân sự; Điều 164; Điều 166; Điều 176 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 100; khoản 1 Điều 166; điểm b khoản 2 …

Ch p nhận một phần yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn ông Trần Văn M. Buộc các anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H và anh, chị Vũ Văn C1 Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho anh, chị Trần Văn M- Nguyễn Thị Th 22 200 000đ (Hai mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng), tương ứng quyền sử dụng đ t 14,8m2 thuộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Trần Văn Muổn; bị đơn: Đinh Văn Công"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 164; khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố Tụng Dân sự; Điều 164; Điều 166; Điều 176 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 100; khoản 1 Điều 166; điểm b khoản 2 …
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đ t đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32 /2021/DS-PT
Ngày: 14 - 9 - 2021
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng
đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Thắng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Ánh

Bà Nguyễn Thúy Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 N 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm C khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2020/TLPT- DS ngày 18/11/2020, về vi c Tranh ch p về quyền sử dụng đ t Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2020/DS – ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2021/QĐXX-PT ngày 04/3/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2021/QĐPT-DS ngày 24/3/2021, Quyết định tạm đình chỉ số 03/2021/QĐ-PT ngày 28/4/2021, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 03/2021/QĐ-PT ngày 02/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 41a/2021/ QĐPT-DS ngày 21/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2021/QĐPT-DS ngày 20/7/2021, Thông báo mở lại phiên tòa số 21/2021/TB-TA ngày 19/8/2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm 1961; địa chỉ: Khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt

* Bị đơn:

1/ Anh, chị Đinh Văn C, sinh năm 1969 - Hoàng Thị H, sinh năm 1971; có mặt

2/ Anh, chị Vũ Văn C1, sinh năm 1965- Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; anh C1 có mặt; chị N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

Cùng địa chỉ: Khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị Th- vợ anh M.

- Uỷ ban nhân dân phường Minh Thành. Người đại di n theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Th1; vắng mặt

- Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên Người đại di n theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu Ch; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn Th2; địa chỉ: Khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

* Kháng cáo: Các bị đơn anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H và Vũ Văn C1 -Nguyễn Thị N.

* Kháng nghị: Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2019, bản tự khai, trong quá trình hòa giải và xét xử nguyên đơn anh Trần Văn M trình bày:

Năm 1991, anh được UBND xã Minh Thành (nay là phường Minh Thành), thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh c p cho gia đình anh 01 thửa đ t để xây nhà ở. Sau khi nhận di n tích đ t trên, anh có đến UBND xã nộp tiền l phí đ t là 400 000đ (bốn trăm nghìn đồng). Thửa đ t được thể hi n tại bản đồ địa chính năm 1994 với di n tích 315m2 thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 16. Trong thời gian chờ làm thủ tục để xây nhà ở thì hộ anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H và hộ anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N ở thửa đ t phía bên trong đã tự ý mở ngõ đi vào một phần di n tích thửa đ t số 47 của gia đình anh. Anh đã có đơn đề nghị UBND xã Minh Thành (nay là phường Minh Thành), thị xã Quảng Yên xem xét giải quyết. Tại buổi làm vi c ngày 25/9/2012 giữa Chủ tịch ủy ban phường và các bên liên quan gồm gia đình anh, hộ gia đình anh C và hộ anh C1, sau đó UBND phường Minh Thành đã có văn bản số 102 ngày 25/9/2012 yêu cầu hai hộ anh C và anh C1, mở lại ngõ đi về phía Bắc của hai hộ và trả lại di n tích đ t l n chiếm làm ngõ đi cho gia đình anh, nhưng hai hộ anh C và anh C1 không thực hi n.

Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết buộc hộ anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H và hộ anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N phải trả lại phần di n tích đ t l n chiếm làm ngõ đi cho gia đình anh, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2020 và trích đo hi n trạng sử dụng đ t có di n tích là 79,8m2. Tại khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh

- Đối với số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá anh đã nộp tạm ứng 7.300.000đ (bảy triệu ba trăm nghìn đồng), anh M yêu cầu anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H; anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh số tiền trên.

- Về án phí anh M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn: Anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H; anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N trình bày trong bản tự khai cũng như tại phiên hòa giải và tại phiên tòa: Năm 1989 gia đình các anh, chị đến sinh sống và lập nghi p tại khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh Khi đó gia đình các anh, chị được anh T, chị X (là hàng xóm) cho một phần đ t làm ngõ đi chung có chiều rộng 3m, chiều dài tính từ đường Quốc lộ 18 đi thẳng vào nhà Từ Năm 1989 đến năm 2012 không có tranh ch p và cũng không có cơ quan nào can thi p lối đi này, cho đến nay gia đình các anh vẫn đang sử dụng lối đi này Cùng thời điểm đó anh Trần Văn M có làm đơn lên UBND phường M, thị xã Q cho rằng hai gia đình đã l n chiếm đ t của anh M làm ngõ đi chung Nhiều lần UBND phường Minh Thành, thị xã Q đã mời các bên lên giải quyết, nhưng không hòa giải được, các anh, chị không đồng ý với quan điểm của anh M đòi lại phần di n tích đ t theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2020 có di n tích 79,8m2 thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 16 bản đồ địa chính năm 1994 tại khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh Vì theo bản đồ địa chính trước năm 1994 thì lối đi trên đã có và trên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của hộ anh T, chị X có phần di n tích lối đi này Khi cán bộ địa chính xuống đo đ t c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho hộ anh T, chị X, ký giáp danh, anh Tùng có ý kiến cho phần đ t (chiều rộng 3m chiều dài 27m) làm ngõ của hai hộ gia đình, mặc dù không có văn bản gi y tờ cho, xong cán bộ địa chính th y hợp lý nên không có ý kiến gì Anh C1, chị N và anh C, chị H khẳng định di n tích đ t trên là ngõ đi chung của hai hộ gia đình, không phải là phần di n tích đ t của anh M đã được c p Quan điểm của các anh, chị là không ch p nhận yêu cầu khởi ki n của anh M về vi c buộc phải trả lại di n tích 79,8m2 mà anh M cho rằng hai gia đình đã l n chiếm Anh C1, chị N và anh C, chị H đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định của pháp luật

- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; định giá tài sản và án phí các anh, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

* Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan:

- Chị Nguyễn Thị Th trình bày trong bản tự khai và tại phiên tòa: Năm 1991 gia đình chị được UBND xã Minh Thành (nay là phường Minh Thành), thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh c p cho gia đình 01 thửa đ t để xây nhà ở. Sau khi nhận di n tích đ t trên, anh M chồng chị có đến UBND xã Minh Thành nộp tiền l phí đ t là 400 000đ (bốn trăm nghìn đồng). Thửa đ t được thể hi n tại bản đồ địa chính năm 1994 với di n tích 315m2 thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 16. Trong thời gian chờ làm thủ tục để xây nhà, thì hộ anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H và hộ anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N ở thửa đ t phía bên trong đã tự ý mở ngõ đi vào một phần di n tích thửa đ t số 47 của gia đình chị. Chị đã có đơn đề nghị UBND xã Minh Thành (nay là phường Minh Thành), thị xã Quảng Yên xem xét giải quyết. Tại buổi làm vi c ngày 25/9/2012 giữa Chủ tịch ủy ban phường và các bên liên quan gồm gia đình chị, hộ gia đình anh C và hộ anh C1, sau đó UBND phường Minh Thành đã có văn bản số 102 ngày 25/9/2012 yêu cầu hai hộ anh C và anh C1, mở lại ngõ đi về phía Bắc của hai hộ và trả lại di n tích đ t l n chiếm làm ngõ đi cho gia đình chị, nhưng hai hộ anh C và anh C1 không thực hi n.

Nay chị đồng ý với quan điểm của nguyên đơn anh M là đề nghị Tòa án giải quyết buộc hộ anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H và hộ anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N phải trả lại di n tích đ t l n chiếm cho gia đình chị có di n tích theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2020 và trích đo hi n trạng sử dụng đ t là 79,8m2. Tại khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh

Chị Hoàng Thị H và chị Nguyễn Thị N: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết đã tri u tập và tống đạt thông báo về vi c thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra vi c giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải chị H và chị N đã nhận các văn bản do Tòa án tống đạt, xong chị H và chị N không có mặt để giải quyết, nên vi c tiến hành phiên họp kiểm tra vi c giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đối với chị H và chị N không thực hi n được Tòa án đã lập biên bản làm căn cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

- UBND phường M có quan điểm: Bản đồ địa chính qua các thời kỳ xác định phần đ t tranh ch p thuộc Thửa đ t số 47 có chủ sử dụng của ông M và không thể hi n có ngõ đi

* Người làm chứng ông, bà Nguyễn Văn T- Nguyễn Thị Thanh X xác nhận: Ông, bà đến khu vực đ t có tranh ch p từ năm 1987- 1989, ông, bà đã cắt 3m chiều ngang chiều dài chạy dọc Quốc lộ 18 cho hai hộ ông C1 và C để làm ngõ đi chung

* Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t UBND thị xã Quảng Yên giải thích về sự chênh l ch sử dụng đ t của hộ ông M: hi n trạng di n tích 277,2m2 do ông M chỉ dẫn không trùng khớp với bản đồ địa chính năm 1994.

Với nội dung trên tại, Bản án số 13/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 N 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên xử:

- Buộc anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H; anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N phải trả lại diện tích 79,8 m2đất đang sử dụng làm ngõ đi thuộc thửa số 47 tờ bản đồ 16 lập năm1994, tại địa chỉ: khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cho anh Trần Văn M (có sơ đồ kèm theo)

- Về chi phí tố tụng: Buộc các đồng bị đơn anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H, anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả lại cho anh Muốn 7.300.000 đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Chia theo phần mỗi người phải nộp số tiền 1.825.000 đồng.

- Về án phí: Buộc các anh, chị Đinh Văn C, Hoàng Thị H, Vũ Văn C1, Nguyễn Thị N phải nộp 5.985.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Theo phần mỗi người phải nộp 1.496.250 đồng.

- Về thời hạn kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo: Ngày 10/10/2020, các bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án yêu cầu hủy bản án để xét xử lại. Lý do: Ngõ đi của hai gia đình sử dụng từ năm 1989, đất của ông M do xã cấp năm 1991, cấp sau chồng lên ngõ đi của hai gia đình. Cấp sơ thẩm xét xử không vô tư, khách quan, không thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát.

Kháng nghị: Ngày 12/12/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên kháng nghị những nội dung sau:

1. Về tố tụng

a) Xác định tư cách tham gia tố tụng:

Căn cứ vào kết quả thẩm định xác định: Trên di n tích đ t tranh ch p có: 4,4m2 thuộc hành lang đường giao thông do Ủy ban nhân dân phường Minh Thành quản lý Bản án sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân phường Minh Thành tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm Khoản 4, Điều 68 BLTTDS

b) Về thu thập, đánh giá chứng cứ:

+ Cũng theo Trích đo hi n trạng kèm theo Biên bản thẩm định thể hi n: đ t đang tranh ch p có 60,6m2 thuộc Thửa đ t 46; Hi n trạng Thửa đ t 47 do ông M đang quản lý là 277,2m2 bị thiếu hụt 37,8m2 so với Thửa đ t 47 thuộc Bản đồ địa chính năm 1994 (ban đầu là 315m2). Nguyên nhân thiếu hụt do 1 phần di n tích Thửa 47 đã bị chủ sử dụng Thửa đ t 32 (nay là Thửa 48- đ t của ông bà T X) xây nhà chồng l n; 1 phần do các bị đơn sử dụng làm ngõ đi chung Bản án sơ thẩm không thu thập tài li u có liên quan như: Hồ sơ kỹ thuật thửa đ t, Biên bản xác định ranh giới mốc giới, các tài li u về đ t đai qua các thời kỳ để làm rõ chủ sử dụng Thửa đ t số 46 (nay là Thửa 30) và Thửa 32 (trước kia là Thửa 48); từ đó, cần tri u tập đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

+ Quá trình giải quyết, ông M cung c p bản phô tô báo cáo số 21/BC-TNMT, ngày 14/4/2012 của Phòng Tài Nguyên môi trường huy n Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên) v/v giải quyết đơn đề nghị của ông M, thể hi n: vi c c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t Thửa đ t 48 tờ bản đồ số 16 (nay là Thửa 32) cho hộ ông T đã vi phạm quy trình c p gi y: tự điều chỉnh sai l ch hình thửa đ t tăng di n tích 390m2, không ký giáp ranh hộ ông M, chồng l n sang thửa đ t số 47 của ông M Sau này ông T đã chuyển nhượng cho ông Đinh Văn Ch, bà Trần Thị T và ông Ch vẫn được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t với những sai sót nêu trên.

Mặc dù vậy, Tòa án không thu thập tài li u xác định tính hợp pháp của chứng cứ này; đồng thời, không thu thập Hồ sơ c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho hộ ông T để làm rõ nguồn gốc đ t tranh ch p, làm cơ sở giải quyết vụ án là thiếu sót, vi phạm Điều 97 BLTTDS.

Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập, xác minh tài li u, chứng cứ bảo đảm đủ cơ sở giải quyết vụ án nhưng không được Hội đồng xét xử ch p nhận.

+ Như vậy, chưa đủ cơ sở xác định toàn bộ di n tích tranh ch p thuộc quyền sử dụng của ông M;

Hơn nữa, theo sơ đồ trích đo hi n trạng kèm theo bản án thể hi n: trong số đ t tranh ch p có: 4,4m2 thuộc hành lang đường do Ủy ban nhân dân phường Minh Thành quản lý; 60,6m2 thuộc Thửa đ t 46 chưa rõ do ai đang quản lý.

Mặc dù vậy, bản án sơ thẩm lại nhận định: ông M khởi kiện đòi lại diện tích 79,8m2 đất thuộc Thửa 47 Bản đồ địa chính N 1994 là có căn cứ, là nhận định không toàn di n, khách quan, vi phạm Điều 108, điểm b khoản 2 Điều 266 BLTTDS. Từ đó, bản án tuyên buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn quyền sử dụng các phần di n tích đ t trên là không đảm bảo, ảnh hưởng đến quyền lợi của người liên quan.

2- Về nội dung

Trong trường hợp có đủ căn cứ để xác định toàn bộ di n tích đ t tranh ch p thuộc quyền sử dụng của hộ ông M, bản án vẫn có những thiếu sót như sau:

+ Bản án tuyên các bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn diện tích 79,8m2 đ t là không chính xác Trường hợp này phải tuyên buộc các bị đơn trả lại cho nguyên đơn quyền sử dụng diện tích 79,8m2 đất… mới phù hợp quy định tại Điều 17 Luật đ t đai 2013

+ Hơn nữa, bản án tuyên buộc các bị đơn trả cho nguyên đơn di n tích 79,8m2 đ t tại Thửa đ t 47 được lập năm 1994, nhưng lại mâu thuẫn với sơ đồ hi n trạng thể hi n trong số 79,8m2 đ t tranh ch p chỉ có14,8m2 thuộc Thửa đ t 47; còn lại 4,4m2 là đ t giao thông và 60,6m2 thuộc Thửa 46 Bản đồ địa chính năm 1994 nên bản án có hi u lực không thể thi hành được.

+ Thửa đ t số 47 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông M, bản án sơ thẩm tuyên buộc các bị đơn trả lại đ t cho riêng ông M mà không đề cập đến quyền lợi của vợ ông M (bà Th) là thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Th.

+ Bản án tuyên buộc các bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn 7 300 000 đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, nhưng không tuyên trách nhi m do chậm thực hi n nghĩa vụ là vi phạm điểm b, khoản 1, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và gây khó khăn khi thi hành bản án

+ Về án phí: Bản án mặc dù đã xác định quan h pháp luật Tranh ch p quyền sử dụng đ t, trong đó chỉ xem xét tranh ch p quyền sử dụng đ t của ai, không phải xác định giá trị tài sản hoặc xác định quyền sử dụng đ t theo phần; nhưng lại tuyên buộc các bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch số tiền 5 985 000đồng là vi phạm điểm b, khoản 2, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Mặt khác Bản án tuyên buộc các đương sự chịu án phí có giá ngạch nhưng không áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 là thiếu sót, vi phạm điểm c, khoản 2 Điều 266 BLTTDS.

- Về xác định thời hạn kháng cáo: Trong vụ án này, các đương sự đều có mặt tại phiên tòa sơ thẩm nên thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày tuyên án. Tuy nhiên, bản án lại xác định các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, là vi phạm khoản 1, Điều 273 BLTTDS.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi ki n và người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo Các đương sự không thỏa thuận được vi c giải quyết vụ án.

Đaị di n Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến về vi c giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm như sau:

1 Về tố tụng:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Thư ký Tòa án và các Thẩm phán đã ch p hành đúng các Điều 285, 286, 294 BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án c p phúc thẩm

- Các đương sự đã thực hi n đúng các quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 và 234 BLTTDS.

2. Về nội dung: Các nội dung kháng nghị về tuyên nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo: c p sơ thẩm đã có đính chính sau kháng nghị, nên Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh rút kháng nghị về nội dung này.

Đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận một phần kháng cáo của bị đơn, ch p nhận kháng nghị của Vi n kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị đơn anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H và Vũ Văn C1 - Nguyễn Thị N và kháng nghị của Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên làm trong thời hạn luật định và kháng cáo, kháng nghị trong phạm vi Bản án sơ thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường Minh Thành đã tri u tập hợp l nhưng vắng mặt, UBND thị xã Quảng Yên và ông Nguyễn Văn Th2 có đơn xét xử vắng mặt Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt UBND phường Minh Thành, UBND thị xã Quảng Yên và ông Nguyễn Văn Th2.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2020/DS – ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên đã xác định đúng quan h pháp luật giải quyết. Tuy nhiên, chưa xác định đầy đủ những người tham gia tố tụng đó là Uỷ ban nhân dân phường Minh Thành và hộ ông Nguyễn Văn Th2 Đây cũng chính là nội dung kháng nghị của Vi n kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, c p phúc thẩm đã bổ sung đưa Uỷ ban nhân dân phường Minh Thành, Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên và ông Nguyễn Văn Th2 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Xét nội dung kháng cáo của các bị đơn cho rằng ngõ đi đang tranh ch p được hai gia đình sử dụng từ năm 1989 đến nay Gia đình ông M được xã c p đ t năm 1991 chồng l n lên ngõ đi của hai gia đình Bản án sơ thẩm tuyên buộc gia đình các bị đơn phải trả lại ngõ đi cho ông M là không khách quan, toàn di n, thiếu căn cứ Đề nghị hủy bản án sơ thẩm xét xử lại. Nội dung kháng cáo của các bị đơn có nội dung trùng với một phần kháng nghị của Vi n kiểm sát nên xem xét, đánh giá cùng nội dung kháng nghị.

- Về kháng nghị của Vi n kiểm sát:

+ Về tố tụng:

` 1- Xác định tư cách tham gia tố tụng: Căn cứ vào kết quả thẩm định xác định di n tích đ t tranh ch p có 4,4m2 thuộc hành lang đường giao thông do Ủy ban nhân dân phường Minh Thành quản lý, nhưng c p sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân phường Minh Thành tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu sót, vi phạm khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự C p phúc thẩm đã bổ sung đưa UBND phường Minh Thành tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

2- Về thu thập, đánh giá chứng cứ: Phần di n tích đ t tranh ch p thẩm định do Văn phòng đăng ký QSDĐ thị xã Quảng Yên đo đạc, lồng ghép bản đồ N 1994 = 79,8 m2, trong đó có 60,6 m2 thuộc thửa 46; 14.8 m2 thuộc thửa 47; 4,4 m2 thuộc hành lang an toàn giao thông; 3,6 m2 thuộc thửa 48, Bản án sơ thẩm buộc các hộ ông, bà C- H, C1- N trả lại cho ông Trần Văn M Đây cũng chính là nội dung kháng cáo của các bị đơn.

Tại c p phúc thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường Minh Thành và UBND thị xã Quảng Yên nh t trí bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tức là nh t trí phần di n tích đ t tranh ch p đo đạc thẩm định = 79,8 m2, trong đó có 60 m2 thuộc thửa 46; 14,8 m2 thuộc thửa 47; 4,4 m2 thuộc hành lang an toàn giao thông.

Để đánh giá sơ đồ đo đạc của c p sơ thẩm làm căn cứ buộc các bị đơn trả lại phần di n tích 79,8 m2 mà hai hộ đang sử dụng làm ngõ đi có căn cứ hay không, căn cứ bản đồ địa chính năm 1994, các hồ sơ c p gi y CNQSD đ t của các hộ liền kề, báo cáo số 21/BC-TNMT ngày 14/4/2012 của phòng TNMT thị xã Quảng Yên; quan điểm của UBND phường Minh Thành tại văn bản số 77/UBND ngày 19/4/2021, Hội đồng xét xử th y:

Năm 1989, các hộ gia đình ông, bà C- Hoa, C1- N đến sinh sống tại thôn Yên lập Đông, cùng gia đình ông Nguyễn Văn Th2, gia đình ông Th2 giáp đường 18A cũ Năm 1991, UBND xã Minh Thành thu tiền và c p đ t cho gia đình ông Trần Văn M nhưng không ghi cụ thể di n tích, tứ cận thửa đ t. Năm 1994, đo đạc bản đồ thửa đ t của ông M được thể hi n với di n tích 315m2 thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 16, nằm ở phía ngoài giáp đường 18A cũ và giáp với các thửa 46, 48. Các thửa này liền nhau không thể hi n ngõ đi Gia đình ông, bà C- Hoa, C1 N ở phía trong. Phía sau nhà của hai hộ ông C1- C thể hi n có con đường nhỏ ở phía Bắc. Nhưng hai hộ ông C1- C đều khai nhận sử dụng đường phía Nam để đi ra đường 18. Năm 2001, khi c p gi y CNQSD đ t cho hộ ông Tùng- Xuân, UBND thị xã Quảng Yên đã c p chồng l n sang một phần đ t của thửa 47 của ông M (Báo cáo số 21/BCTNMT, ngày 14/4/2012 của Phòng Tài Nguyên môi trường huy n Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên). Năm 2014, đo đạc lại bản đồ địa chính và theo gi y CNQSD đ t c p cho hộ ông Th2 thể hi n giáp ranh giữa thửa 47 và thửa 46 là ngõ đi Tuy nhiên, bản đồ địa chính năm 2014 ông M không biết và không xác nhận kết quả đo đạc; UBND phường Minh Thành có quan điểm khẳng định xác định nguồn gốc đ t gia đình ông M đang sử dụng phải căn cứ bản đồ địa chính năm 1994. Vì vậy, căn cứ bản đồ địa chính năm 1994 để giải quyết tranh ch p trong vụ án này.

Theo sơ đồ thẩm định ngày 06/5/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên đo vẽ trên cơ sở lồng ghép bản đồ địa chính năm1994, hi n trạng sử dụng đ t của các hộ thể hi n: Phần di n tích đ t tranh ch p 79,8 m2, trong đó có 60,6 m2 thuộc thửa 46; 14,8 m2 thuộc thửa 47; 4,4 m2 thuộc hành lang an toàn giao thông; 3,6 m2 thuộc thửa 48 thuộc quyền sử dụng của hộ ông T nay là ông Ch Như vậy, chỉ có 14,8m2 ngõ đi theo hi n trạng thuộc thửa 47 của ông M, 4,4 m2 đ t hành lang giao thông thuộc quản lý của UBND phường không được c p GCNQSDĐ; 60,6m2 thuộc thửa 46 của hộ ông Th2. Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/8/2021 ông Th2 có quan điểm theo sơ đồ thẩm định một phần đ t tranh ch p thuộc thửa 46 của gia đình ông, tuy nhiên ông đã thu hẹp tường, xây dựng các công trình kiên cố để sử dụng giành ngõ đi cho các hộ phía sau như hi n trạng và đã được c p gi y CNQSD đ t, sử dụng ổn định đến nay. Ông không có ý kiến gì về vi c c p gi y CNQSD đ t cũng như phần ngõ đi các hộ đang sử dụng.

Ngoài ra, lời khai của người làm chứng gồm:

- Ông Cao Ngọc Th3 thôn trưởng nay là khu trưởng khu Yên Lập Đông từ năm 1982 đến nay và những người hàng xóm liền kề với hai gia đình ông C1- C đều khai nhận hai nhà đều có ngõ đi ra đường 18 từ năm 1989 đến nay. Thực tế, hai gia đình đã xây gạch, tôn tạo mặt đường đang sử dụng.

- Ông, bà Nguyễn Văn T- Nguyễn Thị Thanh X xác nhận: Ông, bà đến khu vực đ t có tranh ch p từ năm 1987- 1989, ông, bà đã cắt 3m chiều ngang chiều dài chạy dọc Quốc lộ 18 cho hai hộ ông C1 và C để làm ngõ đi chung Theo sơ đồ c p gi y CNQSDĐ của hộ ông Nguyễn Văn Tùng năm 2001 sau đó là hộ ông Ch, và gi y CNQSĐ c p cho hộ ông Th2 năm 2015 đều thể hi n ngõ đi của các hộ ông C, C1.

- Chủ tịch UBND xã Minh Thành, ông Hồ Hữu Ng và ông Nguyễn Thành T2- cán bộ địa chính xã Minh Thành, xác nhận: Năm 2009 giải phóng mặt bằng đường sắt Phả Lại - Hạ Long, UBND xã Minh Thành đều xác định ngõ đi của hai hộ ông C1 - C liền kề với thửa đ t ông Trần Văn M.

Từ những căn cứ trên, đủ cơ sở xác định hai hộ ông C- C1 sử dụng ngõ đi có một phần đ t thuộc thửa 46 di n tích 60,6m2 thuộc quyền sử dụng của ông Th2; 4,4 m2 thuộc hành lang an toàn giao thông không được c p gi y CNQSDĐ và 14,8 m2 thửa 47 của ông M. Sau khi được giao đ t ông M không thường xuyên quản lý sử dụng, thực hi n các bi n pháp bảo v đ t dẫn đến để các hộ l n chiếm làm ngõ đi chung cũng có một phần lỗi, nếu buộc hai hộ anh C- C1 trả lại di n tích đ t 14,8 m2 sẽ ảnh hưởng đến vi c sử dụng ngõ đi chung, nên buộc hai hộ thanh toán bằng tiền. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá thị xã Quảng Yên định giá thì đ t có giá trị 1 500 000đ/m2.

3- Các nội dung kháng nghị: Bản án tuyên các bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn di n tích đ t là không chính xác, không phù hợp Điều 17 Luật Đ t đai 2013, tuyên các bị đơn trả lại đ t cho ông M không đề cập gì đến quyền lợi của bà Th là thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Th. Bản án xác định quan h pháp luật Tranh ch p quyền sử dụng đ t , trong đó chỉ xem xét tranh ch p quyền sử dụng đ t của ai, không phải xác định giá trị tài sản hoặc xác định quyền sử dụng đ t theo phần; nhưng lại tuyên buộc các bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch số tiền 5 985 000đồng là vi phạm điểm b, khoản 2, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Từ căn cứ trên, ch p nhận kháng nghị của VKS, ch p nhận một phần kháng cáo của bị đơn sửa bản án sơ thẩm. Căn cứ sơ đồ thẩm định của Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận một phần yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn, buộc các bị đơn trả lại cho nguyên đơn quyền sử dụng 14,8m2 đ t, nhưng thanh toán giá trị bằng tiền theo kết luận định giá của HĐĐG = 1.500.000đ/ m2. Cụ thể: 14,8m2 x 1 500 000đ = 22 200 000đ Theo phần mỗi gia đình phải chịu 11 100 000đ Đồng thời công nhận QSDĐ này là ngõ đi cho hai hộ.

60,6 m2 thuộc thửa 46 mang tên ông Th2, ông Th2 có quan điểm ông không có ý kiến gì về phần đ t này, nên công nhận QSDĐ này là ngõ đi cho hai hộ.

4- Các nội dung kháng nghị về tuyên nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo: C p sơ thẩm đã có đính chính sau kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh rút kháng nghị về nội dung này Căn cứ khoản 3 Điều 289 Bộ luật tố Tụng Dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm phần rút kháng nghị.

Quan điểm của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa có căn cứ ch p nhận.

Chi phí thẩm định tại c p sơ thẩm: Số tiền 7 300 000đ (bảy triệu ba trăm nghìn đồng), nguyên đơn anh Trần Văn M nộp tạm ứng chi phí cho vi c xem xét thẩm định tại chỗ và định giá Đã chi phí hết, do yêu cầu của anh M được ch p nhận, nên buộc đồng bị đơn anh Đinh Văn C, chị Hoàng Thị H; anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền trên cho anh M.

Chi phí thẩm định tại c p phúc thẩm: các anh, chị C- C1 yêu cầu thẩm định lại với chi phí 10 630 000đ, anh, chị C - C1 tự nguy n chịu, theo phần mỗi gia đình chịu ½, nên không đề cập.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do bản án bị sửa nên c p phúc thẩm xác định lại án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị đơn được ch p nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 289 Bộ luật tố Tụng Dân sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng nghị của Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên về tuyên nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo.

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Ch p nhận một phần kháng cáo của bị đơn và kháng nghị số: 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 12/10/2021 của Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2021/DS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 164; khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố Tụng Dân sự; Điều 164; Điều 166; Điều 176 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 100; khoản 1 Điều 166; điểm b khoản 2 Điều 203 Luật Đ t đai 2013; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, l phí Tòa án. Điều 26 Luật thi hành án dân sự

Tuyên xử:

Ch p nhận một phần yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn ông Trần Văn M.

1. Buộc các anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H và anh, chị Vũ Văn C1 Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho anh, chị Trần Văn M- Nguyễn Thị Th 22 200 000đ (Hai mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng), tương ứng quyền sử dụng đ t 14,8m2 thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 16 được lập năm 1994, tại địa chỉ khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Theo phần mỗi gia đình phải chịu 11 100 000đ (Mười một triệu đồng).

Công nhận QSDĐ 75,4 m2 là ngõ đi chung của hai hộ ông C- C1, trong đó: 60,6 m2 thuộc thửa 46, 14,8 m2 thuộc thửa 47.

(Có sơ đồ kèm theo).

2. Về chi phí thẩm định định giá tại c p sơ thẩm: Buộc các bị đơn anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H; anh, chị Vũ Văn C1 - Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền chi phí cho vi c thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7 300 000đ (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng) cho ông, bà Trần Văn M- Nguyễn Thị Th. Theo phần mỗi người phải trả 1 825 000đ (Một triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả cho người được thi hành án số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án cho đến đến khi thi hành xong theo mức lãi su t quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015.

3. Chi phí thẩm định tại c p phúc thẩm: Anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H; anh, chị Vũ Văn C1 - Nguyễn Thị N tự nguy n chịu 10 630 000đ, chi phí đo đạc thẩm định, theo phần: anh, chị Vũ Văn C1 - Nguyễn Thị N phải chịu 5.315 000đ, anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H phải chịu 5 315 000đ (đã thanh toán xong).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H phải nộp 550 000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; anh Vũ Văn C1 và chị Nguyễn Thị N phải nộp 550 000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H; anh, chị Vũ Văn C1 - Nguyễn Thị N không phải chịu án phí phúc thẩm Trả lại anh, chị Đinh Văn C- Hoàng Thị H; anh, chị Vũ Văn C1 - Nguyễn Thị N mỗi người 300 000đ, dự phí phúc thẩm theo bốn biên lai thu tiền từ số 0001543 đến 0001546 ngày 22/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hi u lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ