- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ B n n d n sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Toà n nh n d n huyện Bình Sơn, t nh Qu ng Ng i.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n n số: 32/2021/DS-PT Ngày 14-9-2021 Về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Hạnh;
Các Thẩm phán:
Ông Võ Minh Tiến
Bà Trịnh Thị Thu Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Đại Minh - Th
T a n nh n d n t nh Qu ng Ng i.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Võ Thị Hồng Luyến - Kiểm s t viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở T a n nh n d n t nh Qu ng Ng i xét xử phúc thẩm công hai vụ n thụ l số: 17/2021/TLPT-DS ngày 20 tháng 4 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do B n n d n sự sơ thẩm số: 24/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Toà n nh n d n huyện Bình Sơn, t nh Qu ng Ng i bị h ng c o.
Theo Quyết định đ a vụ n ra xét xử phúc thẩm số: 59/2021/QĐ-PT ngày 02 tháng 6 năm 2021, Thông b o mở lại phiên t a số 603/TB-TA ngày 30 tháng 8 năm 2021, giữa c c đ ơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1967, địa ch : Tổ M, ph ờng P, thành phố Q, t nh Qu ng Ng i.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Minh T1, sinh năm 1976, địa ch : Tổ V, ph ờng P, thành phố Q, t nh Qu ng Ng i. (Theo văn b n ủy quyền ngày 26/6/2020).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thiều Quang V – Là Luật s của Văn ph ng luật s Q thuộc Đoàn Luật s t nh Qu ng Ng i, địa ch : Tổ K, ph ờng C, thành phố Q, t nh Qu ng Ng i.
- Bị đơn: Ông Trịnh Công T2, sinh năm 1962; bà Ch u Thị C sinh năm 1963, cùng địa ch : Xóm L, thôn X, xã B, huyện S, t nh Qu ng Ng i.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trịnh Công T: Ông Huỳnh Tấn M, sinh năm: 1956, địa ch : Số D, tổ H, ph ờng P, thành phố Q, t nh Qu ng Ng i. (Theo văn b n ủy quyền ngày 12/10/2020).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. NLQ1, sinh năm 1983, địa ch : Xóm A, thôn X, xã B, huyện S, t nh Qu ng Ng i.
Người đại diện theo ủy quyền của NLQ1: Ông Trịnh Công T2, sinh năm 1962, địa ch : Xóm L, thôn X, xã B, huyện S, t nh Qu ng Ng i. (Theo văn b n ủy quyền ngày 09/11/2020).
2. NLQ2, sinh năm 1985;
3. NLQ3, sinh năm 1987;
4. NLQ4, sinh năm 1999;
Cùng địa ch : Xóm L, thôn X, xã B, huyện S, t nh Qu ng Ng i.
5. NLQ5, sinh năm 1970, địa ch : Thôn X, xã B, huyện S, t nh Qu ng Ngãi.
6. NLQ6, sinh năm 1974, NLQ7, sinh năm 1979, cùng địa ch : Thôn X, xã B, huyện S, t nh Qu ng Ng i.
7. NLQ8, sinh năm 1965, địa ch : Tổ R, ph ờng P, thành phố Q, t nh Qu ng Ng i.
Người kháng cáo: Ông Trịnh Công T, bà Ch u Thị C, là bị đơn và NLQ1, là ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ông T1, ông V, ông T2, bà C, ông M có mặt tại phiên t a; NLQ2, NLQ3, NLQ4, NLQ8 có đơn xin xét xử vắng mặt; NLQ5, NLQ6, NLQ7 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2019, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 06/5/2019, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Phan Thị L trình bày:
Ngày 28/5/2003 (Âm lịch), ông Trịnh Công T2 và vợ là bà Ch u Thị C cùng thống nhất chuyển nh ợng quyền sử dụng đất bằng giấy tay cho bà với diện tích 80m2 có chiều ngang 4m, chiều dài 20m thuộc một phần thửa đất số 459, tờ b n đồ số 10 ở xã B, huyện S (sau đ y gọi tắt là thửa 459) do UBND huyện Bình Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho hộ gia đình ông Trịnh Công T2, số ph t hành L394308, số vào sổ: 00172 QSDĐ/668/QĐUB (H) ngày 25/12/1997 với gi chuyển nh ợng là 20.000.000 đồng. Ông Trịnh Công T2 là ng ời trực tiếp viết giấy, tên và là ng ời nhận số tiền 20.000.000 đồng. Đ nhiều lần bà yêu cầu ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C làm thủ tục sang tên tr ớc bạ nh ng ông T2, bà C hứa hẹn nh ng hông thực hiện.
Nay bà yêu cầu T a n gi i quyết công nhận hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2003 (Âm lịch), với diện tích chuyển nh ợng theo đo đạc thực tế là 161m2 thuộc thửa đất số 459 (Theo b n đồ thu hồi đất để mở rộng Quốc lộ I năm 2018 thuộc thửa đất 1502, tờ b n đồ số 3 xã B).
Bà rút yêu cầu hởi iện tranh chấp đối với số tiền đền bù, hỗ trợ về đất khi Nhà n ớc thu hồi đất do mở rộng đ ờng Quốc lộ IA là 13.500.000 đồng.
* Tại bản khai ngày 14/6/2019, biên bản lấy lời khai đương sự ngày 16/7/2019 và tại phiên tòa, bị đơn là ông Trịnh Công T2, bà Châu Thị C trình bày:
Về thời gian viết giấy b n đất cho bà Phan Thị L là đúng, diện tích chuyển nh ợng là 80m2, thuộc một phần thửa đất số 459 nh ng ông, bà ch chuyển nh ợng phần diện tích đất có ích th ớc ngang 4m, dài 20m, sau khi đ trừ đ ờng quốc lộ I vào là 20m, tức phần diện tích đất thuộc hành lang an toàn giao thông đ ờng bộ của thửa đất là hông chuyển nh ợng.
Nay bà Phan Thị L yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nh ợng đất và ông, bà ph i sang tên tr ớc bạ cho bà L theo diện tích đo đạc thực tế 161m2 thì ông, bà hông đồng . Ông, bà ch đồng chuyển nh ợng phần diện tích đất 80m2 có vị trí nh giấy b n đất, c n phần diện tích đất hành lang an toàn giao thông đ ờng bộ và phần diện tích đất dôi ra thì ông, bà không chuyển nh ợng, vẫn thuộc quyền sử dụng hợp ph p của vợ chồng ông, bà. Đối với số tiền 13.500.000 đồng tiền đền bù, hỗ trợ hi nhà n ớc thu hồi để mở rộng Quốc lộ I là của vợ chồng ông, bà vì đất thuộc quyền sử dụng hợp ph p của vợ chồng ông bà.
* Tại bản khai ngày 27/8/2019, NLQ2 và NLQ3 trình bày:
Khi ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C với bà Phan Thị L lập hợp đồng chuyển nh ợng đối với quyền sử dụng một phần diện tích thửa đất số 459 thì các anh, chị hông biết, thời gian sau c c anh, chị mới biết. Nay bà Phan Thị L hởi iện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đối với toàn bộ phần diện tích đất, ể c diện tích đất nằm trong hành lang an toàn giao thông đ ờng bộ thì các anh, chị hông đồng , c c anh, chị ch đồng công nhận diện tích đất chuyển nh ợng theo hợp đồng là ngang 4m, dài 20m, tổng diện tích 80m2, c n phần diện tích đất từ điểm 20m éo về phía Đông gi p với mép đ ờng Quốc lộ I thì bà L ph i thỏa thuận gi với ông T2, bà C và các anh, chị.
* Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 27/8/2019, NLQ4 trình bày:
Anh là con đẻ của ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C, khi UBND huyện Bình Sơn cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T2, bà C vào ngày 25/12/1997 thì anh ch a đ ợc sinh ra nên anh hông có quyền lợi gì đối với thửa đất này.
* Quá trình giải quyết vụ án, NLQ8 trình bày:
Ông là chồng của bà Phan Thị L, việc chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C với bà Phan Thị L thì ông hông biết, nh ng số tiền bà L bỏ ra mua đất là tiền chung của ông và bà L. Ông thống nhất với yêu cầu hởi iện của bà L, hông có iến gì thêm.
* Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 20/9/2019, NLQ6 và NLQ7 trình bày:
Ông, bà là ng ời có nhà ở liền ề thửa đất đang tranh chấp, tr ớc đ y, ông, bà có đổ đ sạn và tôn trên đất tranh chấp giữa ông T2, bà C với bà L. Khi Tòa n hoặc c c bên đ ơng sự yêu cầu chuyển đi nơi h c thì ông, bà sẽ chuyển đi.
* Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 20/9/2019, NLQ5 trình bày:
Ông là ng ời trồng cỏ cho b , trồng chuối, mía trên đất tranh chấp, hi T a n hoặc c c bên đ ơng sự yêu cầu thì ông sẽ dỡ dọn, ngoài ra ông hông yêu cầu gì khác.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu hởi iện về việc công nhận hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất (Giấy b n đất) ngày 28/5/2003 của bà Phan Thị L với hộ gia đình ông Trịnh Công T2 đối với phần diện tích đất thuộc thửa đất số 459, tờ b n đồ số 10 xã Bình Hiệp (Theo b n đồ ch nh l 299 lập năm 1999) đ đ ợc UBND huyện Bình Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trịnh Công T2, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00172 QSDĐ/668/QĐUB (H) ngày 25/12/1997, theo b n đồ đo đạc ch nh l năm 2003 thuộc thửa đất 1232, tờ b n đồ số 17 xã Bình Hiệp và theo b n đồ ch nh l để đền bù mở rộng Quốc Lộ 1A năm 2018 thuộc thửa đất số 1502, tờ b n đồ số 3 xã Bình Hiệp, diện tích thực tế sử dụng hợp ph p c n lại hiện nay là 157m2 (trong đó: Đất ở (ONT) là: 93m2, đất HNK là 64 m2).
Buộc bà Phan Thị L ph i thối lại gi trị đất d ra về chiều ngang so với giấy b n đất 20.811.600 đồng và ghi nhận sự tự nguyện của bà L hỗ trợ thêm cho hộ gia đình ông Trịnh Công T2 49.188.400 đồng. Tổng cộng hai ho n là 70.000.000 đồng, bà Phan Thị L đ ợc quyền sở hữu 07 trụ bê tông trên đất (mỗi trụ có chiều cao 2,5m, rộng 0,1m) trị gi 280.438 đồng.
Đình ch xét xử đối với phần yêu cầu hởi iện yêu cầu hoàn tr tiền bồi th ờng, hỗ trợ đất hi nhà n ớc thu hồi mở rộng Quốc lộ 1 là 13.500.000 đồng.
Khi bà Phan Thị L yêu cầu thì: Vợ chồng NLQ6, NLQ7 có nghĩa vụ chuyển đ sạn và tôn đi nơi h c và NLQ5 có nghĩa vụ chặt ph cỏ cho b ăn, chuối, mía trồng trên thửa đất số 1502, tờ b n đồ số 3, xã Bình Hiệp.
Hộ gia đình ông Trịnh Công T2 cùng với bà Phan Thị L có tr ch nhiệm đến cơ quan nhà n ớc có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sang tên đối với thửa đất chuyển nh ợng nói trên.
Nếu hộ gia đình ông Trịnh Công T2 hông đồng đến cơ quan nhà n ớc có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sang tên thửa đất chuyển nh ợng thì bà L có quyền liên hệ với cơ quan nhà n ớc có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sang tên thửa đất nói trên.
Ngoài ra, b n n sơ thẩm c n tuyên về nghĩa vụ chịu n phí, chi phí tố tụng, quyền h ng c o và quyền, nghĩa vụ thi hành n.
* Ngày 06/10/2020, ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C có đơn h ng c o; ngày 21/10/2020, NLQ1 có đơn h ng c o yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên bố giấy mua b n đất ngày 28/5/2003 là vô hiệu.
* Tại phiên t a phúc thẩm, ng ời b o vệ quyền và lợi ích hợp ph p của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận h ng c o của ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C và NLQ1; giữ nguyên b n n sơ thẩm.
* Tại phiên t a phúc thẩm, đại diện Viện iểm s t nh n d n t nh Qu ng Ng i ph t biểu iến về việc tu n theo ph p luật tố tụng trong qu trình gi i quyết vụ n của Thẩm ph n, Hội đồng xét xử, Th
phiên t a ể từ hi T a n cấp phúc thẩm thụ l vụ n cho đến tr ớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị n đều đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.
Đơn h ng c o của ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C và NLQ1c n thời hạn h ng c o và nội dung đơn đ m b o c c quy định tại Điều 271, 272 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.
Về nội dung: Cấp sơ thẩm chấp nhận việc thay đổi yêu cầu hởi iện của nguyên đơn là công nhận hợp đồng chuyển nh ợng từ diện tích 80m2 lên 161m2, nh ng tại thời điểm tổ chức phiên họp h a gi i hông thực hiện thụ l bổ sung, không yêu cầu nguyên đơn nộp tạm ứng n phí bổ sung mà chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn là gi i quyết v ợt qu phạm vi hởi iện ban đầu, vi phạm Điều 5 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015. Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm cũng ch a thu thập tài liệu về nguồn gốc đất để x c định nh n hẩu có trong hộ, ch a làm rõ tổng diện tích đất, diện tích từng loại đất, ch a x c định đ ợc đất hành lang an toàn giao thông đ ờng bộ trong thửa đất tranh chấp là loại đất gì, ch thẩm định đất ở là ch a đầy đủ. Ngoài ra, về tài s n trên đất (trụ bê tông, t ờng gạch) thì cấp sơ thẩm không làm rõ ai là chủ sở hữu và công sức của bị đơn về việc đổ đất; việc ghi nhận nguyên đơn ph i hỗ trợ cho bị đơn 49.188.400 đồng là hông có căn cứ vững chắc dẫn đến x m phạm đến quyền lợi ích hợp ph p của đ ơng sự. Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ mà cấp phúc thẩm hông thể hắc phục. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ ho n 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015, hủy b n n sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ n cho cấp sơ thẩm gi i quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau hi nghiên cứu c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n đ ợc thẩm tra và căn cứ ết qu tranh luận tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:
Vế tố tụng:
Việc h ng c o của ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C và NLQ1 đ ợc thực hiện đúng trình tự, thủ tục và đúng hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015 nên đ ợc chấp nhận.
Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: NLQ8, NLQ2, NLQ3, NLQ4 có đơn xin xét xử vắng mặt; NLQ5, NLQ6 và NLQ7 đ đ ợc T a n triệu tập hợp lệ nh ng vắng mặt. Căn cứ ho n 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt c c đ ơng sự nêu trên.
Về nội dung:
Theo Quyết định số 983/QĐ – UBND ngày 6/7/2018, UBND huyện Bình Sơn thu hồi 27m2 đất thuộc thửa 1502, tờ b n đồ số 3, xã Bình Hiệp, loại đất ở nông thôn để mở rộng Quốc lộ 1A. Tại Biên b n làm việc ngày 15/10/2019, UBND xã Bình Hiệp, huyện Bình Sơn x c định: “Thửa đất số 459, tờ bản đồ số 10, xã Bình Hiệp (bản đồ chỉnh lý 299), theo bản đồ đo đạc năm 2003 thuộc thửa đất số 1230, tờ bản đồ số 17, diện tích 339m2, theo bản đồ chỉnh lý để mở rộng Quốc lộ 1A thuộc thửa đất số 1502, tờ bản đồ số 3, diện tích 178m2, trong đó đất ở 120m2, đất HNK là 58m2. Ngày 06/7/2018, UBND huyện Bình Sơn có Quyết định số 583/QĐ-UBND thu hồi 27m2 đất ở, diện tích còn lại là 151m2. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ diện tích đo thực tế là 161m2, tăng 10m2, trong đó có 4m2 đã bị thu hồi để mở rộng Quốc lộ 1A nhưng chưa sử dụng đến, còn 6m2 là sai số trong quá trình đo đạc, trong phạm vi cho phép. Như vậy, thửa đất số 1502, tờ bản đồ số 3, xã Bình Hiệp, diện tích sử dụng hợp pháp thực tế hiện nay là 157m2, trong đó đất ở là 93m2, đất HNK là 64m2.”
Tại Công văn số 2641/UBND-NC ngày 26/8/2021, UBND huyện Bình Sơn x c định diện tích thửa 459 sau hi thu hồi c n lại là 151m2, đối với diện tích đất qua đo đạc thực tế x c định là 161m2 thì yêu cầu T a n làm việc lại với c c cơ quan đo đạc để x c định mốc tọa độ. Nh vậy, diện tích thửa 459 qua c c tờ b n đồ đều biến động tăng; phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 459 tăng chiều rộng cạnh Đông và Tây so với chiều rộng 4m tại Giấy bán đất lập ngày 28/5/2003 giữa ông Trịnh Công T2 và bà Phan Thị L. T a n cấp sơ thẩm ch a làm rõ nguyên nh n diện tích đất tăng so với Giấy bán đất để x c định phần diện tích đất tăng có đ ợc giao cho một trong c c bên đ ơng sự hay hông mà buộc bà Lộc thanh to n lại gi trị đất tăng về chiều ngang cho ông T2 là ch a có căn cứ. Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm cũng ch a thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ diện tích đất hành lang an toàn giao thông của thửa 459 thuộc loại đất nào, có nằm trong diện tích đất đ ợc cấp theo GCNQSDĐ của hộ ông Trịnh Công T2 hay không, nếu có thì diện tích bao nhiêu, có bị hạn chế chuyển nh ợng hay không. Theo Sơ đồ địa chính thửa đất đo vẽ ngày 20/9/2019 (bút lục 80) thì diện tích thửa đất tranh chấp là 161m2 nh ng tại Chứng th thẩm định gi (bút lục 113, 139) ghi diện tích thửa đất là 232,40 (đơn vị tính: m2 ) và ết luận gi theo diện tích này là ch a chính x c.
Tại đơn yêu cầu ph n tố ngày 20/8/2019 (bút lục 47-48) và đơn trình bày iến ngày 05/8/2019 (bút lục 40-41), bà Ch u Thị C và các con là NLQ 1, NLQ2, NLQ3 và NLQ4 yêu cầu T a n gi i quyết: Hủy giấy b n đất lập ngày 28/5/2003 giữa ông Trịnh Công T2 và bà Phan Thị L. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không tiến hành làm rõ bà C và các con yêu cầu hủy hợp đồng hay tuyên bố hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất vô hiệu để xem xét, gi i quyết yêu cầu này và gi i quyết hậu qu hợp đồng vô hiệu của đ ơng sự trong cùng vụ n là nh h ởng đến quyền, lợi ích hợp ph p của c c đ ơng sự.
Tại Biên b n lấy lời hai ngày 16/7/2019, ông Trịnh Công T2 hai đ đổ 30 xe đất vào phần đất từ mép đ ờng Quốc lộ 1A về phía T y đến mốc 20m, thuộc đất hành an toàn giao thông đ ờng bộ. Tại phiên t a, ông T2 trình bày thời điểm chuyển nh ợng đất cho bà L phần đất này thấp, trũng so với nền đ ờng Quốc lộ 1A nên ngoài đổ 30 xe đất trên, ông còn ph i bỏ công sức lấp đất, tôn tạo để có mặt bằng cao nh hiện nay. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nh ợng đất giữa nguyên đơn và bị đơn bao gồm c phần đất mà bị đơn cho rằng mình có công bồi lấp, đổ đất nh ng hông làm rõ bị đơn có yêu cầu ph n tố về chi phí tôn tạo đổ đất hay hông, không yêu cầu bị đơn giao nộp các tài liệu, chứng cứ có liên quan để thụ l , gi i quyết yêu cầu ph n tố của bị đơn theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015 là vi phạm thủ tục tố tụng, nh h ởng đến quyền, lợi ích hợp ph p của bị đơn.
Theo biên b n xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/9/2019, trên thửa 459 có tài s n gồm: 07 trụ bê tông cốt thép cao 2,5m và t ờng x y gạch cao 0,5m nằm ở phía Bắc gi p với đất của ông Nguyễn Minh T. Theo ông Võ Minh T1 trình bày, năm 2005, ông có chôn 07-08 trụ bê tông ở phía Bắc, lúc đó ch a có nhà gi p cận, hiện nay ông hông biết c n trụ bê tông nào do ông trồng tr ớc ia hay không, riêng 07 trụ bê tông và bờ t ờng x y gạch hiện nay là của ai, ông T1 và bà L đều hông x c định đ ợc. Tại phiên t a phúc thẩm, ông Trịnh Công T2 cho rằng tài s n nêu trên tr ớc đ y do ông Nguyễn Minh T x y dựng, hi đó có lấn qua đất của hộ gia đình ông. Sau khi UBND xã Bình Hiệp gi i quyết thì ông T hông th o dỡ nên ông đ tr tiền cho ông T và ông T giao lại trụ bê tông và t ờng gạch cho ông nên là tài s n của ông, ông hông đồng giao c c tài s n đó cho bà L. Nh vậy, cấp sơ thẩm ch a thu thập chứng cứ để làm rõ c c trụ bê tông, bức t ờng có trên thửa 459 là tài s n của ai, có liên quan đến ông Nguyễn Minh T hay hông để bổ sung ông T vào tham gia tố tụng, bên cạnh đó, cấp sơ thẩm hông hỏi iến bị đơn có tranh chấp đối với c c trụ bê tông hông mà ch căn cứ vào trình bày của nguyên đơn để giao quyền sở hữu 07 trụ bê tông cho nguyên đơn và hông gi i quyết đối với bức t ờng có trên đất là không gi i quyết triệt để vụ n, nh h ởng đến quyền lợi ích hợp ph p của đ ơng sự.
Tại Biên b n hòa gi i ngày 09/9/2020 thể hiện, nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ cho bị đơn số tiền 50.000.000 đồng. B n n sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn hỗ trợ thêm cho hộ ông T2 49.388.4000 đồng (bút lục 235) nh ng biên b n phiên tòa không thể hiện nội dung này. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày việc hỗ trợ thêm tiền cho bị đơn nh trên hông ph i ý kiến của nguyên đơn, mặc dù nguyên đơn hông h ng c o đối với nội dung này nh ng việc ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn hỗ trợ tiền cho bị đơn là ch a đ m b o, không có căn cứ.
Xét thấy việc thu thập chứng cứ và chứng minh của T a n cấp sơ thẩm là thiếu sót; bên cạnh đó, cấp sơ thẩm có những vi phạm thủ tục tố tụng dẫn đến việc gi i quyết vụ n ch a triệt để, nh h ởng đến quyền, lợi ích hợp ph p của đ ơng sự nh đ nêu trên mà tại phiên t a phúc thẩm hông thể thực hiện bổ sung đ ợc. Do đó, cần hủy b n n sơ thẩm, giao hồ sơ về cho T a n nh n d n huyện Bình Sơn để gi i quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Do hủy n sơ thẩm nên cấp phúc thẩm hông xét nội dung đơn h ng c o của ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C và NLQ1.
Về n phí: Do hủy n sơ thẩm nên ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C và NLQ1 không ph i chịu n phí d n sự phúc thẩm và đ ợc hoàn tr lại tiền tạm ứng n phí phúc thẩm đ nộp.
Nghĩa vụ chịu n phí d n sự sơ thẩm, c c chi phí tố tụng h c đ ợc x c định lại hi gi i quyết vụ n theo thủ tục sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm s t tại phiên t a phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đ ợc chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016,
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ B n n d n sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Toà n nh n d n huyện Bình Sơn, t nh Qu ng Ng i.
2. Giao hồ sơ vụ n về cho T a n nh n d n huyện Bình Sơn, t nh Qu ng Ngãi gi i quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C và NLQ1 hông ph i chịu n phí d n sự phúc thẩm.
Hoàn tr lại cho ông Trịnh Công T2, bà Ch u Thị C 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng n phí mà ông, bà đ nộp theo Biên lai thu số AA/2018/0000998 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành n d n sự huyện Bình Sơn, t nh Qu ng Ng i.
Hoàn tr lại cho NLQ1 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng n phí mà chị đ nộp theo Biên lai thu số AA/2018/0000999 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành n d n sự huyện Bình Sơn, t nh Qu ng Ngãi.
4. B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND t nh Qu ng Ng i; - TAND huyện Bình Sơn; - Chi cục THADS huyện Bình Sơn; - Đ ơng sự; - L u: Hồ sơ vụ n. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đ , đóng dấu) Hoàng Thị Mai Hạnh |