| TÒA ÁN NHÂN DÂN N N N UẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án s : 32/2021/DS-PT Ngày: 10 - 6 - 2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG ÒA XÃ Ộ C Ủ NG ĨA V Ệ NAM
ÒA N N N N N N N
UẬN
- Thành ph n H i đ ng x t x phúc th m g m có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hàng Lâm Viên
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn hanh
Bà Phạm hị Anh rang
- Thư ký phiên tòa: à Võ Mai Như Trang – Thư ký Tòa án nhân dân t nh Ninh Thu n.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Ninh Thu n:
Ông Ngô Văn Nghị – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại Tòa án nhân dân t nh Ninh Thu n mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý s 10/2021/TLPT-DS ngày 24 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do b n án dân sự sơ thẩm s 06/2020/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, t nh Ninh Thu n bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s 35/2021/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm s 16/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm: 1987, có mặt tại phiên tòa;
Địa ch : Thôn T2, xã P2, huyện B, t nh Ninh Thu n.
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Ông Bá Trung A, sinh năm 1986, vắng mặt tại phiên tòa;
Địa ch : Thôn V, xã P, huyện T, t nh Ninh Thu n.
2. Bị đơn: Bà Pinăng Thị H, sinh năm 1978, có mặt tại phiên tòa;
Địa ch : Thôn Đ, xã P, huyện B, t nh Ninh Thu n.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Hoàng Thị Thanh T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước t nh Ninh Thu n, có mặt tại phiên tòa.
3. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943, có mặt tại phiên tòa;
Địa ch : Thôn T1, xã P, huyện B, t nh Ninh Thu n.
3.2. Ông Lê Khắc C, sinh năm 1984, vắng mặt tại phiên tòa;
Địa ch : Thôn T, xã L, huyện N, t nh Ninh Thu n.
3.3. Văn phòng công chứng C;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn M – Trưởng Văn phòng công chứng C, vắng mặt tại phiên tòa.
Địa ch : Khu ph 8, thị trấn T, huyện N, t nh Ninh Thu n.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị D.
NỘ UNG VỤ N:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày:
Ngày 17/6/2019, bà Lê Thị D và bà Pinăng Thị H đến Văn phòng Công chứng C để làm hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất s 14 và 15, tờ b n đồ s 55, tổng diện tích 870m2 tại thôn T1, xã P cho bà D với s tiền 20.000.000đ. Hai bên thừa nh n đã ghi thấp giá trị của hợp đồng xu ng để gi m s tiền nộp thuế cho Nhà nước, thực tế giá chuyển nhượng là 220.000.000đ. Sau khi làm thủ tục sang tên, bà D vẫn để nhà, đất cho bà H mượn ở và thỏa thu n khi nào cần lấy nhà thì bà D sẽ báo trước. Đầu năm 2020 bà D yêu cầu bà H tr lại nhà thì hai bên x y ra tranh chấp. Vì v y bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án công nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/6/2019 giữa bà Lê Thị D và bà Pinăng Thị H, buộc bà H ph i tr lại nhà, đất cho bà D.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Pinăng Thị H trình bày:
Sau khi được bà Nguyễn Thị L tặng cho thửa đất s 14, 15 tờ b n đồ s 55, tổng diện tích 870m2 tại thôn T1, xã P, bà H đã làm thủ tục sang tên bà H và mang hai giấy chứng nh n quyền sử dụng đất đến của hàng xe máy Toàn Thịnh Phát thế chấp để vay tiền. Sau khi gặp bà D và được bà D đồng ý cho mượn tiền chuộc lấy giấy chứng nh n quyền sử dụng đất sang tên lại cho bà D, để bà D mang đi Ngân hàng thế chấp vay 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng) về chia đôi mỗi người một nửa. Khi nào tr xong nợ cho Ngân hàng, bà D sẽ sang tên lại giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho bà H. Tin lời bà D nên bà H không nói cho bà L biết.
Ngày 17/6/2019, bà D và bà H đi đến cửa hàng xe máy Toàn Thịnh Phát tr s tiền 92.000.000đ (trong đó nợ g c 75.000.000đ và tiền nợ lãi 17.000.000đ), sau đó bà D, bà H đã đến Văn phòng Công chứng C để làm hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất trên cho chị Diễm với s tiền 20.000.000đ. Sau đó bà D nói không vay được tiền Ngân hàng nên đưa thêm cho bà H 58.000.000đ (chia làm nhiều lần) và nói cho bà vay lại s tiền 150.000.000đ, hàng tháng ph i tr tiền lãi cho bà D. Từ tháng 7/2019 – 01/2020 bà đã tr lãi cho bà D mỗi tháng là 6.500.000đ, nhưng hai bên không làm giấy tờ gì và bà H cũng không yêu cầu gi i quyết đ i với s tiền tr lãi đã tr . Đến ngày 16/11/2019, bà D nói đồng ý cho bà H chuộc lại hai giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, sau khi bà H mang s tiền 200.000.000đ đến Ngân hàng ưu điện Liên Việt để chuộc lại thì bà D không đồng ý.
Nay bà H yêu cầu Tòa án không công nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D và bà H, đồng thời gi i quyết h u qu của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp lu t.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - bà Hoàng Thị Thanh T trình bày:
à th ng nhất với trình bày của bà Pinăng Thị H và bà Nguyễn Thị L và cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D và bà H đ i với 02 thửa đất s 14, 15 tờ b n đồ s 55 và tài s n gắn liền với đất thuộc thôn T1, xã P là do bị “lừa dối, giả tạo” vì các lý do sau đây:
Khi tặng cho bà H các thửa đất s 14, 15 tờ b n đồ s 55 thuộc thôn T1, xã P ngày 14/11/2018, bà L và bà H đã đến Hội cựu chiến binh xã P2 l p biên b n thỏa thu n: Đ i với giấy chứng nh n quyền sử dụng đất bà L tặng cho, khi cần sử dụng vào việc gì thì bà H ph i hỏi ý kiến của bà L và ph i được bà L đồng ý mới được sử dụng. Việc bà H tự đi đến Văn phòng công chứng C chuyển nhượng 02 thửa đất trên cho bà D mà chưa được sự đồng ý của bà L trong khi bà vẫn đang s ng trong nhà của mình là trái với quy định của pháp lu t.
Sau khi x y ra tranh chấp hợp đồng sang nhượng đất, bà D và bà H không th ng nhất được với nhau về s tiền mà hai bên đã tr cho nhau, bà D thì cho rằng đã đưa cho bà H 220.000.000đ còn bà H ch thừa nh n là đã nh n từ bà D 150.000.000đ. Mặc khác bà H cho rằng bà không có ý định sang nhượng 02 thửa đất trên cho bà D, do bà H là người dân tộc thiểu s ít hiểu biết nên đã bị bà D lừa, vì v y đề nghị Tòa án không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà D, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị D và bà Pinăng Thị H vô hiệu theo quy định tại Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 131 và Điều 407 của ộ lu t dân sự để gi i quyết h u qu của hợp đồng dân sự vô hiệu giữa các bên.
Sau khi ra quyết định thành l p Hội đồng định giá tài s n ngày 28/8/2020 , Hội đồng đã tiến hành định giá tài s n tranh chấp tại thôn T1, xã P. Theo Quyết định s 14/2020/QĐ-U ND ngày 19/5/2020 của U ND t nh Ninh Thu n kèm theo b ng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 thì các thửa đất s 14, 15 tờ b n đồ 55 thuộc thôn T1, xã P, huyện B kèm theo các tài s n v t kiến trúc và cây c i có trên đất, giá trị là 426.402.270đ .
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà Nguyễn Thị L là mẹ ruột bà Pinăng Thị H, hiện bà H đang ở chung nhà với bà L. Sau khi đến Văn phòng Công chứng C làm hợp đồng tặng cho bà H thửa đất s 14 tờ b n đồ 55, diện tích 650m2 đất trồng cây hằng năm tại thôn T1, xã P thì đến ngày 21/5/2018, bà tiếp tục cho bà H thửa đất thổ cư s 15 tờ b n đồ 55, diện tích 220m2 tại thôn T1, xã P, trên thửa đất này có 03 căn nhà xây cấp 4. C hai thửa đất trên đã được U ND huyện B cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất.
Do trước đây bà L có vay v n của Ngân hàng chính sách xã hội huyện B 38.000.000 đồng nên bà L cho bà H 02 thửa đất trên với điều kiện bà H ph i tr kho n nợ 30.000.000 đồng cho Ngân hàng, s tiền còn lại 8.000.000 đồng bà L tự tr , nếu sau này bà không có kh năng tr nợ thì chị Hệ ph i tr kho n tiền nợ này cho Ngân hàng. Bà L th ng nhất với lời trình bày của bà Thủy về việc bà L và bà H có thỏa thu n tại Hội cựu chiến binh xã P2.
Việc bà H tự ý chuyển nhượng nhà và đất cho bà D thì bà không biết, sau này bà mới nghe bà H kể lại đã bị bà D lừa chuyển nhượng nhà đất để bà D mang đi thế chấp ngân hàng. Bà L cũng không biết bà D có vay được tiền hay không. Ngoài s tiền tr cho cửa hàng xe máy Toàn Thịnh Phát 92.000.000đ, bà D còn đưa thêm cho bà H nhiều lần, tổng cộng 150.000.000đ và hàng tháng bà H ph i tr tiền lãi cho bà D. Bà D đã 03 lần đến nhà yêu cầu bà L giao nhà và đất, nhưng bà không đồng ý vì hiện nay bà L vẫn ở trong căn nhà của mình trên thửa đất s 14 và 15. Nay bà đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/6/2019 giữa bà D và bà H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- ông Lê Khắc C trình bày:
Ông C là chồng bà D. Ông không biết việc bà D và bà H sang nhượng đất cho nhau vì bà D không bàn bạc gì với ông. Ông không có yêu cầu gì với việc tranh chấp này của hai người, vì b n việc làm ăn, ông yêu cầu được vắng mặt trong quá trình gi i quyết vụ việc.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn M – Trưởng Văn phòng công chứng C có văn bản trình bày:
Ngày 17/6/2019, bà Pinăng Thị H và bà Lê Thị D đến Văn phòng Công chứng C để l p và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài s n gắn liền với đất s CA 400197 s vào sổ cấp giấy chứng nh n CH 00241 do U ND huyện B cấp ngày 03/02/2016. Tại Văn phòng công chứng C, sau khi xem xét kiểm tra các hồ sơ giấy tờ, nội dung thỏa thu n của hai bên đúng với quy định của pháp lu t và phù hợp với đạo đức xã hội nên Công chứng viên đã tiếp nh n hồ sơ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Sau khi tiến hành soạn dự th o hợp đồng, hai bên đã đọc lại và cùng th ng nhất toàn bộ nội dung. Tại thời điểm ký kết, điểm ch vào hợp đồng, hai bên hoàn toàn minh mẫn và có đủ năng lực hành vi dân sự, sau đó công chứng viên đã chứng nh n hợp đồng và chuyển hồ sơ cho nhân viên văn phòng đóng dấu ban hành, lưu trữ hồ sơ công chứng. Hợp đồng công chứng ngày 17/6/2019, sổ công chứng 0811, quyển s 01TP/CC-SCC/HĐGD.
Tại bản án dân sự sơ th m số 06/2020/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, t nh Ninh Thu n quyết định:
Căn cứ kho n 3 Điều 26, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm c kho n 1 Điều 39, kho n 1 Điều 147 của ộ lu t t tụng dân sự; điểm d kho n 1 Điều 12, kho n 3 Điều 26, điểm b kho n 2 Điều 27 Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội.
Căn cứ Điều 52 của Lu t Công chứng, kho n 3 Điều 167 của Lu t Đất đai; các Điều 122, 124, 127, 131 và Điều 407 của ộ lu t dân sự.
1/ Không chấp nh n toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị D, tuyên b hợp đồng công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Lê Thị D và chị Pinăng Thị H vô hiệu.
2/ Chị Pinăng Thị H ph i hoàn tr lại cho chị Lê Thị D s tiền 157.307.000đ (Trong đó 150.000.000đ là tiền chuyển nhượng đất và 7.307.000đ đồng là 50% số tiền chênh lệch về giá đất tại thời điểm hiện nay).
3/ Chị Lê Thị D ph i có trách nhiệm giao tr lại cho chị Pinăng Thị H giấy chứng nh n quyền sử dụng đất s CA 400197 ngày 03/02/2016 và giấy chứng nh n quyền sử dụng đất s CA 400198 ngày 03/02/2016 của U ND huyện B cấp cho bà Nguyễn Thị L.
Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện B tạm giữ giấy chứng nh n quyền sử dụng đất s CA 400197 ngày 03/02/2016 và s CA 400198 ngày 03/02/2016, bà Lê Thị D đã nộp cho Tòa án nhân dân huyện B vào ngày 23/12/2020 để b o đ m cho việc thi hành án.
Ngoài ra b n án sơ thẩm còn tuyên quyền thi hành án, nghĩa vụ chịu chi phí t tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 11/01/2021, nguyên đơn bà Lê Thị D có đơn kháng cáo toàn bộ b n án dân sự sơ thẩm s 06/2020/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, t nh Ninh Thu n, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa toàn bộ b n án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/6/2019 giữa bà Lê Thị D và bà Pinăng Thị H có hiệu lực pháp lu t; uộc bà Pinăng Thị H ph i tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/6/2019, giao 02 thửa đất s 14, 15 tờ b n đồ s 55, xã P cùng với tài s n gắn liền trên đất cho bà D.
Tại phiên tòa phúc th m, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Ninh Thu n phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về t tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng thủ tục t tụng từ
khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.
- Về việc gi i quyết vụ án: Tại phiên tòa, các đương sự đã thỏa thu n được toàn bộ những nội dung cần gi i quyết trong vụ án nên đề nghị Tòa án công nh n sự thỏa thu n của các đương sự, sửa b n án sơ thẩm.
N ẬN ĐỊN CỦA ÒA N:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Lê Thị D kháng cáo và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn quy định tại các Điều 272, 273 và 276 ộ lu t T tụng dân sự nên kháng cáo của bà D được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, gi i quyết.
[1.2] Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; Các đương sự thỏa thu n được toàn bộ những nội dung cần gi i quyết trong vụ án.
[2] Sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
[2.1] Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/6/2019 giữa bà Pinăng Thị H (bên chuyển nhượng) với bà Lê Thị D (bên nh n chuyển nhượng) được Công chứng tại Văn phòng Công chứng C đ i với các thửa đất:
- Thửa đất s 14, tờ b n đồ s 55, diện tích 650m2 đất trồng cây hàng năm khác theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất s CA 400197, s vào sổ cấp giấy chứng nh n CH 00241 ngày 03/02/2016 do UBND huyện B cấp (Thửa đất s 14).
- Thửa đất s 15, tờ b n đồ s 55, diện tích 220m2 đất ở tại nông thôn theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất s CA 400198, s vào sổ cấp giấy chứng nh n CH 00242 ngày 03/02/2016 do UBND huyện B cấp (Thửa đất s 15).
- Các thửa đất tọa lạc tại thôn T1, xã P, huyện B, t nh Ninh Thu n, người sử dụng đất là bà Pinăng Thị H.
[2.2] Bà Pinăng Thị H là người đang sử dụng, đứng tên quyền sử dụng các thửa đất có nghĩa vụ hoàn tr tổng s tiền cho bà Lê Thị D khi hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
[2.3] Các b n g c giấy chứng nh n quyền sử dụng các thửa đất s 14, 15 bà Lê Thị D đã nộp cho Tòa án nhân dân huyện B nên bà Pinăng Thị H liên hệ Tòa án nhân dân huyện B để nh n lại các giấy chứng nh n quyền sử dụng đất.
[2.4] Chi phí thẩm định, định giá:
- Bà Lê Thị D ph i chịu 1.000.000đ và đã nộp đủ.
- Bà Pinăng Thị H ph i chịu 1.000.000đ và đã nộp đủ.
[3] Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy
[3.1] Các đương sự đã thỏa thu n được toàn bộ những nội dung trong vụ án; Sự thỏa thu n của các đương sự hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp lu t, không trái đạo đức xã hội nên Tòa án cấp phúc thẩm chấp nh n nội dung kháng cáo của bà Lê Thị D; Chấp nh n quan điểm gi i quyết vụ án của Kiểm sát viên; Công nh n sự thỏa thu n của các đương sự.
[3.2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng nghĩa vụ chịu án phí nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa phần án phí như sau:
- Bà Lê Thị D yêu cầu công nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không được Tòa án chấp nh n nên bà ph i chịu án phí không có giá ngạch là 300.000đ theo quy định tại Điều 27 kho n 3 điểm b của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c Hội. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà D ph i chịu án phí 3.800.000đ là không đúng.
- Bà Pinăng Thị H yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có yêu cầu gi i quyết về thiệt hại khi hủy hợp đồng được Tòa án chấp nh n nên bà ph i chịu án phí tương ứng với s tiền ph i thực hiện nghĩa vụ khi hủy hợp đồng theo quy định tại Điều 27 kho n 3 điểm b của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c Hội. Tuy nhiên, bà H là người thuộc Dân tộc thiểu s , sinh s ng tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên Tòa án chấp nh n miễn án phí cho bà H.
- Vì sửa b n án sơ thẩm nên người kháng cáo không ph i chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾ ĐỊN :
p dụng: Điều 300, Điều 308 kho n 2 của ộ lu t t tụng dân sự; Điều 27 kho n 3 điểm b của Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội.
uyên xử:
1. Chấp nh n một phần yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị D, sửa n án dân sự sơ thẩm s 06/2020/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện B, t nh Ninh Thu n.
2. Công nh n sự thỏa thu n của bà Lê Thị D, bà Pinăng Thị H:
2.1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/6/2019 giữa bà Pinăng Thị H (bên chuyển nhượng) với bà Lê Thị D (bên nh n chuyển nhượng) được Công chứng tại Văn phòng Công chứng C đ i với các thửa đất:
- Thửa đất s 14, tờ b n đồ s 55, diện tích 650m2 đất trồng cây hàng năm khác theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất s CA 400197, s vào sổ cấp giấy chứng nh n CH 00241 ngày 03/02/2016 do UBND huyện B cấp (Thửa đất s 14).
- Thửa đất s 15, tờ b n đồ s 55, diện tích 220m2 đất ở tại nông thôn theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất s CA 400198, s vào sổ cấp giấy chứng nh n CH 00242 ngày 03/02/2016 do UBND huyện B cấp (Thửa đất s 15).
- Các thửa đất tọa lạc tại thôn T1, xã P, huyện B, t nh Ninh Thu n, người sử dụng đất là bà Pinăng Thị H.
2.2. Bà Pinăng Thị H là người đang sử dụng, đứng tên quyền sử dụng các thửa đất có nghĩa vụ hoàn tr tổng s tiền cho bà Lê Thị D khi hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
2.3. Các b n g c giấy chứng nh n quyền sử dụng các thửa đất s 14, 15 bà Lê Thị D đã nộp cho Tòa án nhân dân huyện B nên bà Pinăng Thị H liên hệ Tòa án nhân dân huyện B để nh n lại các giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Bà Pinăng Thị H có nghĩa vụ đăng ký biến động về tên người sử dụng đất theo b n án này.
2.4. Chi phí thẩm định, định giá:
- Bà Lê Thị D ph i chịu 1.000.000đ và đã nộp đủ.
- Bà Pinăng Thị H ph i chịu 1.000.000đ và đã nộp đủ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại các Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí
3.1. Án phí sơ thẩm:
- Bà Lê Thị D ph i chịu 300.000đ được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s 0022163 ngày 17/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B; Bà D đã nộp đủ tiền.
- Bà Pinăng Thị H được miễn án phí.
3.2. Án phí phúc thẩm: Các bà Lê Thị D, Pinăng Thị H đều không ph i chịu án phí. à Lê Thị D được hoàn tr 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s 0022184 ngày 12/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án (ngày 10/6/2021). Nơi nh n:
M. Ộ Đ NG X X P C
M
- TAND huyện B;
M P N - C Ủ ỌA PHIÊN ÒA
- VKSND t nh Ninh Thu n;
- Chi cục THADS huyện B;
- Các đương sự;
- Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và THA;
- Phòng HCTP;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Hàng Lâm Viên