vanban.org

Bản án 32/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Quang M phạm tội " Tàng trữ hàng cấm ".

Xử phạt bị cáo Võ Quang M 09( chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (M tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Võ Quang M cho Ủy ban nhân dân xã Công Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An quản lý, giám sát trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án thụ lý số 38/2020/HSST ngày 06 tháng 4 năm 2020 - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Quang M phạm tội " Tàng trữ hàng cấm ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HSST
Ngày: 24/4/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thái Dương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Hào

2. Bà Phan Thị Quế

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Thị Hiền, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An: Ông Luyện Văn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2020/HSST ngày 06 tháng 4 năm 2020, Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2020/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Võ Quang M. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 10/6/1972, tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 5, xã B TH, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ và tên cha: Võ Quang M ( đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T (Cúc, đã chết). Anh chị em ruột: gia đình có 10 chị em, M là con thứ M trong gia đình. Vợ: Võ Thị H, sinh năm 1971. Con: có ba con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/01/2020 đến ngày 04/01/2020, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối tháng 7 năm 2019 Võ Quang M đang ở cửa hàng tạp hóa của mình thì có người đàn ông không quan biết đi xe ô tô đến nhập hàng là bánh kẹo, người đàn ông đó hỏi M có mua pháo để nổ dịp tết không thì M đồng ý mua. M và người đàn ông đã thống nhất mua pháo loại 01 khối là 36 quả với giá 550.000đồng/khối, M đã mua 10 khối pháo và trao tiền cho người đàn ông đó là 5.500.000 đồng. Nhận pháo xong M đưa pháo cất ở tầng hai nhà mình. Đến khoảng tháng 12/2019 M có đưa ra thử nổ 01 khối pháo còn lại cất dấu chỗ cũ. Đến khoảng 14 giờ ngày 01/01/2020 khi Vương Đình H; sinh năm 1980; ở xóm 20, xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc và anh Hoàng Trung Th; sinh năm 1987; trú tại khối 13, phường Cửa nam, thành phố Vinh đến nhập hàng cho M thì M đưa tặng Huấn 01 khối pháo loại 36 quả về nổ tết (anh Thông là lái xe không biết việc M cho Huấn pháo), khi Huấn đưa pháo ra xe thì bị tổ công tác Công an tỉnh Nghệ an phối hợp với Công an xã B TH phát hiện và thu giữ trên tay Huấn 01 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 14 x14x 10cm bên ngoài có in hình pháo nổ cháy sáng. Cơ quan Công an tỉnh Nghệ An đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Võ Quang M, kết quả phát hiện trong tủ ly trên tầng hai nhà M có 08 khối hộp hình chữ nhật kích thước 14 x 14 x 10cm bên ngoài có in hình pháo nổ cháy sáng.

Ngày 02/01/2020, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã thành lập Hội đồng, tiến hành mở niêm phong xác định 08 khối hộp hình chữ nhật kích thước 14 x 14 x 10cm bên ngoài có in hình pháo nổ cháy sáng thu giữ của M là 10,86 kg. 01 khối hộp hình chữ nhật kích thước 14 x 14 x 10cm bên ngoài có in hình pháo nổ cháy sáng thu giữ tại tay của Huấn là 01,35 kg.

Tại Bản Kết luận giám định số 70/KL-PC09 (DD2 - CN) ngày 06/01/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu vật (ký hiệu M1) thu giữ của Vương Đình H, mẫu vật (ký hiệu M2) thu giữ của Võ Quang M gửi giám định đều là pháo có đầy đủ các đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Bị cáo Võ Quang M đã khai nhận hành toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tàng trữ 09 khối pháo có khối lượng 12,21 kg ( đã lấy đi giám định còn lại 8,12 kg)

Tại bản cáo trạng số 41/VKS - HS ngày 27 tháng 3 năm 2020 cũng như tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giữ nguyên Quyết định truy tố Võ Quang M về tội “Tàng trữ hàng cấm” Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng khoản 1, điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000Vnđ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trình bày sự hối hận với hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với người đàn ông bán pháo cho M, sau khi điều tra xác minh nhưng chưa có căn cứ cơ quan Công an huyện Yên Thành tiếp tục xác minh xử lý sau; anh Vương Đình H tàng trữ 01 khối pháo nhưng chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Toàn bộ hành vi phạm tội của mình về tàng trữ trái phép 12,21 kg pháo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng

nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý một số loại hàng cấm tàng trữ, vận chuyển, lưu thông trên thị trường. Vì vậy cần phải xử lý bằng một mức án nghiêm mới có tác dụng cải tạo và phòng ngừa chung. Nhưng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xét bị cáo có chỗ ở rõ ràng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mẹ của bị cáo là người có công được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS; xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giám sát cũng là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định phải áp dụng khoản 4 điều 191 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập ổn định, bản thân bị cáo bị bệnh nặng, thường xuyên đi bệnh viện, nên xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Vật chứng của vụ án gồm: Thu giữ của M là 12,21 kg ( đã lấy đi giám định còn lại 8,12 kg). Xét đây là vật cấm lưu hành vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

. Đối với người đàn ông bán pháo cho M, sau khi điều tra xác minh nhưng chưa có căn cứ cơ quan Công an huyện Yên Thành tiếp tục xác minh xử lý sau, anh Vương Đình H tàng trữ 01 khối pháo chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên miễn xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp,

cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Võ Quang M phạm tội " Tàng trữ hàng cấm ".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Quang M 09( chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (M tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Võ Quang M cho Ủy ban nhân dân xã Công Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An quản lý, giám sát trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2.Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 06 hộp pháo hình chữ nhật kích thước 14 x 14 x 10cm ; có khối lượng 8,12 kg (Vật chứng hiện có tại kho vật chứng Công an huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Cơ quan Công an huyện Yên Thành có trách nhiệm chuyển số vật chứng trên đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành để xử lý theo quy định của Pháp luật.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt khi tuyên án có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 (M lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ