- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 32/2020/HS-ST Ngày 08 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Ngọc Long;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Sông Hương và ông Hồ Trọng Trung;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Lò Văn V, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1986 tại huyện S H, tỉnh LC; Nơi cư trú: Bản NS, xã NH, huyện SH, tỉnh LC; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Đã 03 lần bị kết án tại Bản án số 31/2007/HSST ngày 27/01/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu Xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”; Bản án số 58/2008/HSST ngày 18/5/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu Xử phạt 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp hình phạt của bản án số 31/2007/HSST ngày 27/01/2007 là 26 tháng tù; Bản án số 19/2013/HSST ngày 08/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện SH, tỉnh LC Châu Xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện bị cáo đã được xóa án tích.
Con ông Lò Văn P và bà Lò Thị Đ; Có vợ là chị Lò Thị O; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/01/2020 đến hết ngày 18/01/2020 và bị tạm giam từ ngày 04/4/2020 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Bị hại: Anh Vương Văn H, sinh năm 1984 và chị Lự Thị N, sinh năm 1982. Đều cư trú tại: Thôn 3 Minh Thượng, xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Lự Thị Nlà anh Vương Văn H– Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Những người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn 1 MT, xã ML, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn 3 MT, xã ML, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt
+ Bà Dương Thị Toán, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Thôn 1 MT, xã ML, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/01/2020, Lò Văn V đến nhà anh Nguyễn Văn L ở thôn 1 MT, xã ML, huyện VB, tỉnh LC chơi. Tại đây, L quan sát thấy có nhiều trâu chăn thả rông nên nảy sinh ý định bắt trộm trâu mổ mang đi bán. Khoảng 16 giờ ngày 10/01/2020, V đi vào đường công trường của Công ty vàng Minh Lương thuộc địa phận thôn 3 Minh Thượng, xã Minh Lương thì nhìn thấy 01 con trâu cái, khoảng 08 tuổi, lông và da màu đen được xỏ sẵn 01 sợi dây thừng màu đỏ ở mũi đang được chăn thả tự do ở lề đường, sau này xác định được là trâu của gia đình anh Vương Văn Hì, V liền đuổi con trâu đi tiếp một đoạn rồi cởi dây thừng dắt qua khe nước Hổi Pé đi lên đồi buộc vào một gốc cây cách vị trí ban đầu khoảng 400 mét rồi đi về nhà anh Lập. Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 11/01/2020, V dậy lấy 02 con dao nhọn dài 40cm, chuôi dao bằng gỗ; 02 bao tải xác rắn màu vàng ở nhà Nguyễn Văn L và 02 túi ni lon V mua ở chợ xã Minh Lương từ trước, L hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 29S1-3444 để đi có việc, rồi điều khiển xe đi. Khi cách vị trí buộc con trâu khoảng 350m thì dừng lại mang theo 02 con dao, 02 bao tải, 02 túi ni lon đi bộ đến vị trí buộc trâu. Đến nơi V cởi dây dắt con trâu lên sườn đồi, sát sườn ta luy âm dẫn đến khe nước Hổi Pé, tay trái V cầm dây thừng xỏ mũi trâu, tay phải cầm một con dao đâm một phát vào vùng cổ làm con trâu ngã lăn xuống chân sườn ta luy âm. Do dây thừng đứt tuột khỏi mũi con trâu nên V đã vứt lên đồi, rồi ném bao tải và túi ni lon xuống vị trí con trâu ngã. Sau đó, V đi vòng xuống đến vị trí con trâu tiếp tục dùng dao đâm phát thứ hai vào cổ con trâu, con trâu chưa chết vẫn đi ngược theo khe nước được khoảng hơn 10 m thì gục xuống, V dùng dao đâm phát thứ ba vào cổ thì con trâu trâu chết hẳn. Sau đó, V dùng dao lọc lấy thịt ở đùi sau thứ nhất cho vào túi ni lon và lồng vào bao tải xác rắn. Rồi tiếp tục lọc thịt ở đùi thứ hai, khi đang lọc thịt thì có ánh đèn pin soi từ trên đường xuống sợ bị phát hiện nên đã vứt con dao vào bụi cây rồi bỏ chạy. Đến ngày 13/01/2020, Lò Văn V đến Công an huyện Văn Bàn đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL - ĐGTS ngày 16/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Văn Bàn kết luận: 01 con trâu cái, lông da màu đen, sừng dài 36cm, khoảng 8 tuổi, trâu khỏe mạnh bình thường có trị giá là 30.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKS-VB ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lò Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Lò Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án tóm tắt nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn V mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về xử lý vật chứng, án phí tuyên theo quy định của pháp luật.
Bị hại anh Vương Văn Hình (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị hại chị Lự Thị Nhung) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về Tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 10 -11/11/2019, bị cáo Lò Văn V đã có hành vi giết mổ trộm 01 con trâu cái của gia đình anh Vương Văn H mục đích để lấy thịt ăn tết. Theo kết luận định giá tài sản thì con trâu có giá trị 30.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đối với Nguyễn Văn L, Quá trình điều tra Lò Văn V khai đã rủ V đi tìm trâu để mổ trộm lấy thịt ăn tết, cũng là người đã đi tìm trâu cùng với V và chuẩn bị công cụ, phương tiện cho V đi thực hiện hành vi mổ trộm trâu, cơ quan điều tra đã tiền hành lấy lời khai và đối chất với V nhưng L không thừa nhận, ngoài lời khai của V thì không còn chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn L là phù hợp.
Về hình phạt:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Mặc dù bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” nhưng bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 03 lần bị kết án về các tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ, “Trốn khỏi nơi giam”; “Trộm cắp tài sản”, điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường pháp luật. Mặt khác, khi được tại ngoại, bị cáo đã bỏ trốn và bị cơ quan điều tra Công an huyện Văn Bàn ra Quyết định truy nã, việc bị cáo bỏ trốn gây khó khăn, kéo dài thời gian cho công tác điều tra, giải quyết vụ án. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Sau khi cân nhắc các căn cứ quyết định hình phạt như đã phân tích trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và lấy đó làm bài học cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đối với mức án Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về vật chứng:
Đối với 01 con trâu đã bị giết mổ đã được trả lại cho anh Vương Văn Hình, nên không đề cập giải quyết.
Đối với 01 bao tải xác rắn màu vàng; 01 con dao nhọn, dài 40cm, loại dao một lưỡi, lưỡi dao dài 25cm, bản rộng nhất của lưỡi là 4,2cm, chuôi dao bằng gỗ dài 15cm, quá trình điều tra xác định là của anh Nguyễn Văn Lập, anh Lập không có yêu cầu nhận lại và 01 túi nilon màu trắng. Đây là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Theo lời khai của bị cáo Lò Văn V thì bị cáo còn sử dụng 01 con dao dài khoảng 40 cm, chuôi dao bằng gỗ; 01 bao tải xác rắn, 01 túi nilon, 01 sợi dây thừng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng chưa xác định được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Prety, biển kiểm soát 29S1-3444, quá trình điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc xe. Cơ quan điều tra tách ra khi nào làm rõ sẽ đề cập xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn V mức án 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 04/4/2020, bị cáo được khấu trừ 06 ngày tạm giữ, từ ngày 13/01/2020 đến hết ngày 18/01/2020.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải xác rắn màu vàng; 01 con dao nhọn, dài 40cm, loại dao một lưỡi, lưỡi dao dài 25cm, bản rộng nhất của lưỡi là 4,2cm, chuôi dao bằng gỗ dài 15cm, 01 túi nilon màu trắng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Bàn)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b, 7c và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; Tỉnh (02); - CQCSĐT Công an huyện; - CQTHAHS Công an huyện; - Sở tư pháp tỉnh; - Bị cáo; - Bị hại (02); - THA HS (03) - THA DS (01) - Lưu HS; LĐ, TP, VP, KT (05) CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hồ Trọng Trung Đàm Sông Hương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Ngọc Long THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Ngọc Long |