vanban.org

Bản án 32/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Quốc H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Quốc H 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2019. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - HS - NGUYỄN THÁI QUỐC HOÀNG - 134K2 - T02-2020 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Quốc H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 32/2020/HSST
Ngày: 21/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên òa: Ông Trần Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Tạ Văn Đài.

2/ Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà H Thị Nhung – Thư ký Tòa án của Tòa án

nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng

Nai: Ông Phạm Ngọc Lương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2020/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thái Quốc H, sinh năm 1997; tại: Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp QĐ, xã ĐH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1954 và bà Đoàn Thị Tuyết Nh, sinh năm 1961; có vợ tên: Phan Thị Thanh H, sinh năm 1999 và có 01 con (con sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/6/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Đã được xóa án tích); bị cáo bị bắt giam ngày 15/11/2019 (Có mặt).

- Bị hại:

1/ Bà La Thị Thúy A, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp Hòa Bình, xã ĐH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

2/ Ông Đặng Kiều Công L, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp Hòa Bình, xã ĐH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Hồng K, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp HL, xã HT, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1/ Ông Trần Minh H1 (Vắng mặt).

2/ Ông Trương Văn H2 (Vắng mặt).

3/ Ông Mai Xuân T (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 29/7/2019, Nguyễn Thái Quốc H cùng với Mai Xuân Thông là công nhân của Công ty Pousung thuộc Khu công nghiệp Bàu Xéo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô đến Công ty Pousung nhưng không để xe đúng nơi quy định. Bà La Thị Thúy A và ông Trương Văn H2 là bảo vệ của Công ty nhắc nhở H để xe đúng nơi quy định nên H và bà Thúy A xảy ra cự cãi và nảy sinh mâu thuẫn. H bỏ đi còn Thông vào Công ty làm việc. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H về nhà tại ấp QĐ, xã ĐH, huyện Trảng Bom lấy con dao tự chế dài khoảng 70cm (loại mã tấu) rồi cất giấu vào trong người. Sau đó, H gọi điện cho Trần Minh H1 nhờ H1 đi công việc với H thì H1 đồng ý. H điều khiển xe mô tô hiệu Nova Dash biển số 60F2-382.36 tới quán Net Thiên Phúc thuộc ấp An Bình, xã Trung Hòa, huyện Trảng Bom đón H1. Trên đường đi H1 hỏi H đi đâu nhưng H không nói rồi chở H1 tới Công ty Pousung. Khi đến nơi, H1 ngồi ngoài xe còn H lấy dao để ở chỗ để chân bên hông xe của xe mô tô rồi chạy vào cổng chốt bảo vệ của Công ty chém vào má trái, vai trái của bà Thúy A. Lúc đó ông Đặng Kiều Công L (là chồng của bà Thúy A và cũng là bảo vệ của Công ty) đang đi tuần phát hiện chạy tới nên H bỏ chạy ra khỏi cổng bảo vệ. Ông Luật đuổi theo thì bị H dùng dao chém vào mu bàn tay phải. Thấy H chém nhân viên bảo vệ nên H1 chạy lại can ngăn H và bảo vệ Công ty. Sau đó, H lên xe chở theo H1 tới đường hẻm D08 thuộc khu 2, ấp An Bình, xã Trung Hòa, huyện Trảng Bom, H vứt bỏ cây dao vào bụi cây ven đường và chở H1 về lại quán Nét Thiên Phúc rồi bỏ trốn. Đến ngày 15/11/2019, H bị Công an huyện Trảng Bom bắt giữ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0736/TgT/2019 ngày 20/8/2019 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Đồng Nai kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà La Thị Thúy A như sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo má trái kích thước 01 x 0,5 cm, sẹo gồ, sơ dính, đổi màu, xấu về thẩm mỹ. Tỷ lệ 11%

- Tổn thương trật khớp mỏm cùng vai trái và mẻ xương mỏm cùng vai trái đã được phẫu thuật kết hợp xương đòn – mỏm cùng vai trái hiện để lại hạn chế động tác xoay vai và nâng vai. Tỷ lệ 11%.

Sẹo vai trái kích thước 12,5 x 0,3 cm. Tỷ lệ 3%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 23%.

3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc.”

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0738/TgT/2019 ngày 20/8/2019 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Đồng Nai kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Đặng Kiều Công L như sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Tổn thương đứt gân duỗi ngón 2, 3, 4, 5 bàn tay phải, phải phẫu thuật khâu nối hiện để lại hạn chế vận động ngón 2, 3, 4, 5 bàn tay phải mức độ nặng. Tỷ lệ 6%.

Sẹo mặt mu bàn tay phải kích thước 8,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ 3%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 09%.

3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc.”

Vật chứng vụ án: Đối với con dao mã tấu tự chế dài khoảng 70 cm, bị cáo khai nhận sau khi gây án bị cáo đã vứt bỏ cây dao vào bụi cây ven đường khu vực đường hẻm D08 thuộc khu 2, ấp An Bình, xã Trung Hòa, huyện Trảng Bom. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với ông Trần Minh H1 đi cùng với bị cáo đến Công ty Pousung nhưng không biết mục đích của H đi đến Công ty Pousung để gây thương tích cho các bị hại. Khi thấy H chém nhân viên bảo vệ, H1 có hành động can ngăn H do đó, Cơ quan Điều tra Công an huyện Trảng Bom không xử lý đối với H1.

Tại Cáo trạng số: 41/CT/VKS-HS ngày 10/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái Quốc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Quốc H mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.

Các bị hại khai vào ngày 29/7/2019, bị cáo đã gây thương tích cho các bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà La Thị Thúy A yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng); bị hai ông Đặng Kiều Công yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Bị cáo H đồng ý bồi thường cho các bị hại, không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc kH1 nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/7/2019, tại Công ty Pousung thuộc Khu công nghiệp Bàu Xéo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Thái Quốc H đã có hành vi dùng “Hung khí nguy hiểm” là 01 con dao mã tấu tự chế dài khoảng 70 cm chém vào má trái, vai trái của bà La Thị Thúy A gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 23%; chém vào mu bàn tay phải của ông Đặng Kiều Công L gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 09%. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thái Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà La Thị Thúy A yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng); bị hại ông Đặng Kiều Công L yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà La Thị Thúy A số tiền 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng), bồi thường cho ông Đặng Kiều Công L số tiền là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

. Đối với xe mô tô biển số 60F2-382.36 đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Quốc H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Quốc H 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2019.

2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Thái Quốc H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà La Thị Thúy A số tiền là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng); bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Đặng Kiều Công L số tiền là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm trả.

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo, các bị hại, biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ