- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Thái - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2020/HSST Ngày 25 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Thuận và bà Nguyễn Thị Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2020 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/HSST ngày 12/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST - HS ngày 09/9/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2020/HSST - QĐ ngày 22/9/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Văn Th, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1984; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn Th1 (đã chết) và bà Nga Thị L (đã chết); vợ,con: chưa có; Tiền sử: Tại Bản án số 190/2010/HSST ngày 30/9/2010, TAND huyện Đông Anh xử phạt 20 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản”, thời gian thử thách 29 tháng 14 ngày kể từ ngày tuyên án, đã được xóa án tích. Tại Quyết định số 221/QĐ-XPHC ngày 15/11/2016, Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.Tại Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 20/12/2017, Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt số tiền 500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiền án: không; Tiền sự: 02: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC ngày 06/02/2018, Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản và Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPHC ngày 14/5/2018, công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/5/2020 đến ngày 21/5/2020, bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2020. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
Người bị hại: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn Y, xã Q, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968 ; Địa chỉ: Thôn Tr, xã L, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đào Văn Th ở thôn Đ, xã Q, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc là người nghiện ma túy nên Thái có mối quan hệ xã hội phức tạp với nhiều đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 15/5/2020, Th đi lang thang chơi tại khu vực Trung tâm y tế huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây Th có quen và đi chơi với một nam thanh niên có tên là Kh (chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Do không có tiền mua ma túy sử dụng nên Th rủ Kh đi về khu vực xã Q để trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Khánh đi xe máy kiểu dáng xe Dream chở Th về đến khu vực xã Q, huyện Sông Lô. Lúc này do nhiều người dân vẫn thức nên Th và Kh đèo nhau đi lòng vòng quanh xã Q, theo dõi và chờ đến đêm để thực hiện hành vi trộm cắp. Khoảng 02 giờ ngày 16/5/2020, Th rủ Kh đến khu vực nhà bà Vũ Thị T ở thôn Y, xã Q để trộm cắp gà vì Th quan sát thấy nhà bà T ở giáp một quả đồi bạch đàn lớn, phía sau nhà bà T tường bao loan thấp, không có hàng xóm xung quanh, chuồng gà không có cửa. Khi đi đến qua ngã ba rẽ vào nhà bà T, Th nhặt 01 bao tải màu trắng ở ven đường. Th và Kh dắt xe máy dấu ở phía sau đồi, đi bộ qua khu đồi đi vào khu chuồng chăn nuôi gà của gia đình bà T. Sau đó, Th nhảy qua tường rào gạch xi cao 01m, đi vào bên trong chuồng gà còn Kh đứng bên ngoài bờ tường cầm bao tải. Th bắt từng con gà và đưa cho Kh đúc vào tải. Th bắt được tất cả 06 con gà (03 con mái, 03 con trống). Sau đó, Kh và Th đi đến khu vực chợ Lãng Công, huyện Sông Lô bán số gà trên cho chị Nguyễn Thị C ở thôn Tr, xã L, huyện Sông Lô (làm nghề buôn gà). Chị C hỏi Th về nguồn gốc gà thì Th nói “Nhà em thay gà nên bán”. Do có 01 con gà trống còn nhỏ nên chị C không mua mà chỉ mua 05 con gà to, có tổng trọng lượng là 13kg, với giá 80.000đ/1kg. Thái đồng ý bán cho chị C được số tiền 1.040.000đ. Chị C đưa cho Th 1.050.000đ nhưng Th không có tiền trả lại nên Th xin không trả lại, chị C đồng ý. Còn 01 con gà trống nhỏ chị C không mua, trên đường đi Th đã vứt bỏ gà và bao tải nhưng không xác định được vứt ở vị trí nào. Sau khi nhận được số tiền 1.050.000đ, Kh và Th đã tiêu sài cá nhân hết. Ngày 18/5/2020, Đào Văn Th tự nguyện đến Công an xã Quang Yên, huyện Sông Lô đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản (gà) của gia đình bà Vũ Thị T. Công an xã Quang Yên đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 22/5/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Lô có kết luận định giá số 19/KLĐG kết luận: 06 con gà ta (03 con gà trống, 03 con gà mái), tổng trọng lượng 14,1 kg có tổng giá trị là 1.410.000đ (Một triệu bốn trăm mười nghìn đồng)
Quá trình điều tra xác minh, xác định được: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPHC ngày 14/5/2018, công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Đào Văn Th số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô đã tống đạt hợp lệ Quyết định xử phạt hành chính trên cho Th, niêm yết Quyết định tại nơi cư trú và giao Quyết định trên cho những người trong gia đình của Th, Th biết mình bị xử phạt nhưng cố tình trốn tránh, bỏ trốn khỏi địa phương, không nộp phạt. Vì vậy theo quy định tại Điều 70, 74 Luật xử lý vi phạm hành chính, thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quyết định trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh (ngày 18/5/2020), Th chưa nộp phạt nên chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, hành vi trộm cắp lần này của Th đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi mua gà của bà Nguyễn Thị C, bà C hoàn toàn không biết nguồn gốc số gà trên do Th trộm cắp có được. Ngay trong buổi sáng ngày 16/5/2020, bà C cũng đã bán toàn bộ số gà trên cho khách nên không thu hồi được số gà bị trộm cắp. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô không có căn cứ để xử lý.
Đối với nam thanh niên tên Kh và xe máy do Kh điều khiển chở Th đi trộm cắp, do Th mới quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ Biển kiểm soát của xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô đang tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.
Vật chứng thu giữ: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Vũ Thị T yêu cầu Đào Văn Th phải bồi thường số tiền 1.400.000đ nhưng đến nay Th chưa bồi thường.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Đào Văn Th thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 30/CT - VKS ngày 12/8/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Đào Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Đào Văn Thái giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Th. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đào Văn Th từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/5/2020, được trừ thời gian tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Th phải bồi thường cho bà T số tiền 1.400.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; cùng với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 16/5/2020, Thái cùng một nam thanh niên (chưa xác định được con người cụ thể) đã thực hiện hành vi trộm cắp 06 con gà của gia đình bà Tình. Trị giá tài sản Thái trộm cắp được của bà Tình là 1.410.000đ. Hành vi trộm cắp tài sản (gà) ngày 16/5/2020 của Đào Văn Thái khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính.
Hội đồng xét xử khẳng định: Hành vi phạm tội nêu trên của Đào Văn Th đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá … dưới 2.000.0000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;”
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, làm cho chủ sở hữu tài sản không yên tâm trong việc quản lý tài sản của mình. Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, không chịu khó lao động chân chính mà vì động cơ tư lợi, muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan điều tra, nên được áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Th là người nghiện ma túy làm nghề tự do, không có thu nhập, công việc ổn định cũng như không có tài sản nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Vũ Thị T yêu cầu bị cáo Th phải bồi thường số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng). Bị cáo Th đồng ý bồi thường theo đề nghị của bà T. Đến nay Th chưa bồi thường khoản tiền nào. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Th phải bồi thường cho gia đình bà T số tiền là 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng).
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Đào Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Thi 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 23/5/2020. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/5/2020 đến ngày 21/5/2020.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Th phải bồi thường cho bà Vũ Thị Tsố tiền 1.400.000 đồng (bằng chữ: một triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người đề nghị thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đựợc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Văn Th phải chịu 200.000đ (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (bằng chữ: ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
6. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô; -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -Uỷ ban nhân dân xã Quang Yên, huyện Sông Lô; -Bị cáo; -Lưu hs; Vp. tuyên án. kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Khƣơng Đặng Khánh Hằng Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền Khƣơng Đặng Khánh Hằng |