- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Duy C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2020/HS-ST Ngày: 16/03/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Quý
Bà Phan Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Minh Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/HSST- QĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam Sinh năm 1994; Nơi sinh: tại Bạc Liêu; Nơi đăng ký HKTT: xã V, huyện P, tỉnh B; Nơi thường trú: Phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Nguyễn Đăng K, sinh năm: 1975; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H (chết) ; Vợ: Huỳnh Yến L, sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 26/10/2019 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 9 đến ngày 04/12/2019 thay thế biện pháp ngăn chặn, ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
Công ty cổ phần kỹ thuật N ( Vắng mặt)
Địa chỉ: phường 14, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Huỳnh Chí T, sinh năm 2004 ( Có mặt)
Địa chỉ: xã P, huyện P, tỉnh B
2/ Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1972 ( Có mặt)
Địa chỉ: xã P, huyện P, tỉnh B
3/ Ông Tiêu Đức C, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ: phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Chí T, sinh ngày 12/6/2004 và Nguyễn Duy C là công nhân làm việc tại tòa nhà L6 thuộc dự án Vinhomes Grand Park tại khu phố Long Hòa, phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm việc T nảy sinh ý định trộm cắp dây ống kim loại bằng đồng dùng đi gas máy lạnh của Công ty cổ phần kỹ thuật N, địa chỉ: quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, đang để trong kho vật tư tại lầu 2, tòa L8 của công trình, sau khi quan sát T ra về. Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 25/10/2019, T đem theo 06 bao nilong loại 50kg, 02 khóa mở ốc seze 28, 01 kìm cộng lực bỏ toàn bộ vào cốp xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 94E1-04562 rồi điều khiển đến phòng trọ của Nguyễn Duy C tại số 23/4C Đường 8, khu phố Ích Thạnh, Phường T, Quận X và rủ C cùng đi trộm cắp, C đồng ý. T nói C sẽ điều khiển xe chở T đến kho vật tư tại lầu 2, tòa L8 của công trình và đứng cảnh giới, T sẽ trực tiếp phá khóa kho và cắt dây ống kim loại, tài sản lấy được cả hai sẽ cùng nhau đem đi bán, tiền bán được T chia cho C 03 phần, C đồng ý. Sau đó T giao xe gắn máy cho C chở T đến công trình. Tại đây, C dựng xe ở vỉa hè lầu 2, tòa L8 và đứng cách cửa kho khoảng 05m cảnh giới, T sử dụng 02 khóa mở ốc, phá ổ khóa cửa kho vào bên trong sử dụng kìm cộng lực cắt 330 kg ống kim loại bỏ vào 06 bao nilong. Lúc này, anh Tiêu Đức C là nhân viên Bảo vệ của dự án Vinhomes Grand Park đi tuần tra phát hiện bắt giữ T và C giao Công an phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9 giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 182-2019/KL-ĐGTS ngày 01/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND Quận 9: 330kg ống kim loại bằng đồng, giá trị còn lại: 32.250.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với Huỳnh Chí T, sinh ngày 12/6/2004, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, T được 15 tuổi 04 tháng 13 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh không xử lý hình sự.
Vật chứng vụ án: 06 bao nilong bên trong có 330kg ống kim loại bằng đồng, 01 kìm cộng lực, 02 khóa mở ốc size 28, 01 ổ khóa hiệu Zsolex.
Xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 94E1-04562.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Duy C và gia đình Huỳnh Chí T đã bồi thường số tiền 35.098.000 đồng cho Công ty cổ phần kỹ thuật N ( chi phí thiệt hại 330kg ống kim loại bằng đồng). Công ty cổ phần kỹ thuật N không có yêu cầu gì khác và có đơn bãi nại cho Nguyễn Duy C.
Bản cáo trạng số 23/CT-VKSQ9 ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Duy C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Duy C về tội trộm cắp tài sản khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Về tình tiết tăng nặng: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã khắc phục hậu quả. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Duy C thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận hoặc bào chữa gì, bị cáo C nói lời sau cùng rất hối hận về hành vi đã làm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và các người có liên quan trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với lời trình bày của người bị hại và các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 25/10/2019, Nguyễn Duy C điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 94E1-04562 chở Huỳnh Chí T đến kho vật tư của Công ty cổ phần kỹ thuật N, tại lầu 2, tòa L8 thuộc dự án Vinhomes Grand Park tại khu phố Long Hòa, phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, C dựng xe, đứng cách cửa kho khoảng 05m cảnh giới cho T sử dụng 02 khóa mở ốc phá ổ khóa cửa kho, vào bên trong sử dụng kìm cộng lực cắt 330 kg ống kim loại, trị giá: 32.250.000 đồng, T bỏ vào 06 bao nilong, thì bị anh Tiêu Đức C là Bảo vệ phát hiện bắt giữ. Hành vi của Nguyễn Duy C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đánh giá về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi nên bị cáo bất chấp. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hậu quả của vụ án là nghiêm trọng nên cần xử lý bị cáo với mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên cũng xét, trong quá trình điều tra truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại cũng có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i, s khoản, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sữa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Xét bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt trước khi phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng thể hiện có khả năng tự cải tạo. Với các lý do nêu trên, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, xét không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cho bị cáo hưởng án treo giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát trong thời gian thử thách cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sử đổi bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Huỳnh Chí T, sinh ngày 12/6/2004, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, T được 15 tuổi 04 tháng 13 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh không xử lý hình sự là có cơ sở.
Về xử lý vật chứng:
- Xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 94E1-04562, qua xác minh, xe do anh Huỳnh Văn Hưởng là cha Huỳnh Chí T đứng tên đăng ký chủ sở hữu, ngày 25/10/2019, T mượn xe đi công việc sau đó sử dụng vào mục đích phạm tội, anh H không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, TP. Hồ Chí Minh đã trao trả cho anh H là phù hợp với quy định pháp luật.
- 06 bao nilong bên trong có 330kg ống kim loại bằng đồng, 01 kìm cộng lực, 02 khóa mở ốc size 28, 01 ổ khóa hiệu Zsolex đây là tang vật và công cụ dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Nguyễn Duy C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sư.
2. Áp dụng Điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu huỷ: 01 kìm cộng lực, 02 khóa mở ốc size 28, 01 ổ khóa hiệu Zsolex, 06 bao nilong bên trong có 330kg ống kim loại bằng đồng.
( Tài sản tịch thu tiêu huỷ theo Lệnh nhập kho số 95/19 ngày 07/11/2019)
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí và lệ phí tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ khi bản án được niêm yết hợp lệ.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nhận: - TANDTP. HCM - Sở Tư pháp; - VKSND Q9; - Chi cục THA Q9; - Công an Q9; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tần Quốc Bình |