vanban.org

Bản án 32/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 14/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y K Niê (Ama N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Y K Niê 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thờ gian thử thách là 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y K Niê phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y K Niê (Ama N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST
Ngày 14 tháng 12 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Kim Quy

Ông Phạm Thế Chiến

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2020/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/HSST-QĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

- Y K Niê (tên gọi khác: Ama N), sinh năm 1976 tại huyện K, Đắk Lắk.

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Êđê; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Y B Bkrông (đã chết) và bà H’O Niê.

Bị cáo có vợ: H’ D Hmôk, có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa:

Bà Trần Thị Phương L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Địa chỉ: Số 39 L, thành phố M, tỉnh Đắk Lắk,

- Bị hại: Anh Y M Niê, sinh năm 2001

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Bà H’D Hmôk

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Anh Y B Bkrông, sinh ngày 04/11/2005

Người đại diện theo pháp luật:

Bà H’A Bkrông (là mẹ Y B Bkrông)

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, đều vắng mặt.

- Anh Y A Ênuôl, sinh ngày 29/6/2006

Người đại diện theo pháp luật:

Ông Y S Bkrông, sinh năm 1976 (là bố của Y A Ênuôl).

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, đều vắng mặt.

- Anh Y K Êban, sinh năm 2003.

Người đại diện theo pháp luật: ông Y T Bkrông, là bố đẻ Y K

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, vắng mặt.

- Anh Y P Buôn Krông, sinh ngày 24/7/2002

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, vắng mặt.

- Chị H’N Niê, sinh năm 1992

Cư trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, vắng mặt.

Người phiên dịch: Ông Y E KTla

Đơn vị công tác: Phòng tư pháp huyện K, tỉnh Đắk Lắc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 28/02/2020 Y M Niê cùng với một số thanh niên ở tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K dùng gạch, đá ném để hái xoài trước nhà Y K Niê ở tổ dân phố T. Thấy vậy, Y K Niê đang nguồi uống rượu một mình, nghe ồn ào nên Y K chửi và đuổi nhóm của Y M Niê về. Do bị Y K đuổi về nên Y M Niê rủ Y B Bkrông đi xe mô tô chạy đến nhà của Y K nẹt bô xe gây ồn ào, Y K thấy vậy nên nhặt viên gạch 04 lỗ ném về phía xe của Y M Niê nhưng không trúng người mà trúng vào bô xe, Y B, và Y M Niê bỏ xe về nhà. Sau đó Lê Vinh Q vào nhà Y K lấy xe máy đi về. Khi về đến nhà, Y M Niê lấy xe mô tô biển kiểm soát 47K5 - 4189 của gia đình mình chạy đến nhà Y K Niê, khi từ đường vào trong sân Y M liên tục nẹt bô xe, Y K Niê nghe thấy nghĩ là nhóm thanh niên của Y M quay lại nên nhặt 02 viên gạch 04 lỗ chạy ra, mỗi tay cầm 01 viên, khi đến gần chỗ Y M Niê khoảng 2m, Y K dùng tay phải ném mạnh về phía Y M Niê trúng vào đầu Y M Niê gây thương tích. Bà H’D Hmõk là vợ của Y K đi ra thấy trên tay Y K Niê đang cầm cục gạch nên giật cục gạch ném đi và đưa Y K Niê vào nhà còn Y M Niê được gia đình đưa đến bệnh viện đa khoa huyện K điều trị.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 412/TgT-TTPY ngày 15/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Y M Niê bị sẹo dạng chữ V qua vùng xương sọ khuyết trán phải, kích thước 8 x 0,3cm, khuyết xương sọ trán phải, đáy chắc, kích thước 4 x2,5cm; tụ máu màn cứng trán phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 28%. Vật tác động: Cứng có cạnh.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được viên gạch (loại gạch 04 lỗ) bị cáo Y K Niê đã dùng gây thương tích cho bị hại anh Y M Niê.

Thu giữ 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen của Y M Niê.

Cáo trạng số 34/CT-VKS-HS ngày 26/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Y K Niê về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Y K Niê khai: Khoảng 21 giờ ngày 28/02/2020 khi bị cáo đang ngồi uống rượu tại hè nhà bị cáo thì nhóm thanh niên trong đó có Y M Niê đã gây ồn ào, dùng gạch đá ném lên cây xoài nhà hàng xóm của bị cáo, bị cáo yêu cầu mọi người về không ném xoài nữa, nhưng nhóm thanh niên không nghe, Y M dùng xe máy chở mấy người thanh niên chạy vào sân chỗ bị cáo nẹt pô, kích động nên bị cáo dùng một viên gạch để ném nhưng không trúng người. Y M bỏ lại xe chạy đi, sau đó người thanh niên người kinh vào lấy xe về. Đến khoảng 23 giờ đêm khi bị cáo đang ngồi ở hè nhà mình lại thấy Y M chạy xe máy vào sân chỗ bị cáo ngồi vừa chạy vừa nẹt pô để khiêu khích, lúc đó bị cáo cầm mỗi tay một viên gạch, khi Y M cách khoảng 2 - 3 mét thì bị cào ném viên gạch về phía bị hại thì trúng người bị hại. Sau đó vợ bị cáo là H’ D chạy ra giật viên gạch còn lại trên tay bị cáo ném đi và lôi bị cáo đi ngủ và nhờ mọi người đưa bị hại đi cấp cứu. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 13.500.000đ, bị hại đã có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Tại phiên tòa đại diện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, truy tố bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Y K Niê phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134, điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Y K Niê từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm đã bị vỡ, không còn giá trị sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng).

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Các điều 584, 586, 590 Bộ luật dân sự:

Chấp nhận gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 13.500.000đ. Người bị hại có đơn xin bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo bà Trần Thị Phương L trình bày lời bào chữa: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, người bị hại tại phiên tòa thấy rằng việc VKSND huyện truy tố đối với bị cáo Y K Niê về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là đúng nên đồng ý về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội do trước đó bị hại đã có hành vi chạy xe vào nhà bị cáo nẹt pô, khiêu khích bị cáo làm cho tinh thần của bị cáo bị kích động nên bị hại cũng có một phần lỗi, sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo đã bồi bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại Điều 54 BLHS, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tự cải tạo để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại theo yêu cầu của bị hại, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Ana, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người bị hại vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt) và một số người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều trả đã có lời khai, xét thấy người bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 28/02/2020 người bị hại Y M và một số thanh niên người đồng bào ném đá để hái xoài nhà hàng xóm của bị cáo, gây ồn ào mất trật tự, giữa bị cáo và nhóm thanh niên đã cãi nhau, bị cáo đuổi nhóm thanh niên đã bỏ đi, sau đó Y M Niê chạy xe máy chở Y B Bkrông vào sân nhà bị cáo tại tổ dân phố T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có hành vi nẹt pô, khiêu khích nên bị cáo đã dùng viên gạch ném nhưng không trúng người, một lát sau Y M Niê về nhà lấy xe tiếp tục chạy xe vào sân nhà bị cáo nẹt pô, thấy vậy bị cáo đã dùng viên gạch 04 lỗ ném trúng đầu bị cáo gây tổn thương cơ thể cho bị hại 28%.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe của bị hại, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc phải biết sức khỏe của con người là vốn quý, là bất khả xâm phạm, ai xâm phạm bất hợp pháp sẽ bị nghiêm trị, nhưng do ý thức coi thương pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác, chỉ vì bức xúc từ việc bị hại Y M chạy xe vào nhà bị cáo nẹt pô, kiêu khích, làm cho tinh thần của bị cáo bị kích động, khi bị hại lại chạy xe vào sân nhà bị cáo lần thứ hai, bị cáo đã dùng viên gạch 04 lỗ là hung khí nguy hiểm ném trúng đầu bị hại gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ 28%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều luật quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b)…..

2/ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a)…

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trong vụ án này người bị hại có hành vi gây mất trật tự trong đêm khuya, chạy xe, nẹt pô vào sân nhà bị cáo khiêu khích làm cho tinh thần bị cáo bị kích động dẫn đến phạm tội nên người bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu không được đi học, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần chấp nhận lợi bào chữa của người bào chữa áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt mà điều luật quy định.

Xét trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng. với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của nói trên, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc mũ bảo hiểm của bị hại Y M Niê đã bị vỡ, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra giữa bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận giải quyết, theo đó bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 13.500.000đ, người bị hại đã bãi nại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Y K Niê phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, e, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Y K Niê (Ama N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Y K Niê 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thờ gian thử thách là 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm không còn giá trị sử dụng. (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày14/12/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Ana và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Y K Niê phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ