vanban.org

Bản án 32/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre Tuyên án 16/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Minh T phạm “Tội trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Minh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/7/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Minh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST
Ngày: 16-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phạm Thị Em.

2/ Bà Trần Thị Diễm Kiều

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Thanh Minh T, sinh năm 1998; tại tỉnh Bến Tre; Trú tại: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị Thu M; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Phạm Ngọc H1, sinh năm 1972; (Vắng mặt)

+ Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1969; (Có mặt)

Trú tại: Số B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1967 (Có mặt)

Trú tại: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền chơi game, nên vào khoảng 08 giờ ngày 20/3/2020, Nguyễn Thanh Minh T đi bộ đến nhà anh Nguyễn Thanh H1 (là cậu của T), ở ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre dùng cây kéo mang sẵn trong người cạy cửa sau nhà anh H1, vào bên trong mở cửa phòng ngủ, T lục soát đồ đạc và lấy 30 triệu đồng (loại mệnh giá 500.000 đồng) ở trong túi áo khoác nữ màu trắng bông treo trên vách tường của chị Phạm Ngọc H2 (vợ anh H1), T bỏ tiền vào túi quần rồi đi ra ngoài đóng cửa lại như ban đầu. Sau khi lấy được tiền T mua thẻ nạp chơi game trên điện thoại hết 9.500.000 đồng. Đến ngày 23/3/2020 sự việc bị phát hiện, Công an mời T làm việc và T đã thừa nhận hành vi lấy trộm tiền đồng thời giao nộp lại 20.500.000 đồng cho cơ quan công an.

Vật chứng tạm giữ: Số tiền Việt Nam 20.500.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, rỉ sét, có in dòng chữ “STAINLESS STEEL”.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành đã trả lại cho chị Phạm Ngọc H2 số tiền 20.500.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thu M (mẹ T) bồi thường cho ông H1, bà H2 9.500.000 đồng.

Cáo trạng số 33/CT-VKSCT ngày 01/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Minh T “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm “Tội trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Minh T từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 24 tháng.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.

- Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thu M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại và không yêu cầu gì khác.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, rỉ sét, có in dòng chữ “STAINLESS STEEL” là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.

Bị hại ông Nguyễn Thanh H1 trình bày: Do đã nhận lại đầy đủ tài sản bị mất, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng thời nói lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sửa đổi bản thân, làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại Phạm Ngọc H2 vắng mặt. Bị cáo, bị hại Nguyễn Thanh H1 không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị hại về đặc điểm tài sản, vị trí, thời gian để tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 08 giờ ngày 20/3/2020, Nguyễn Thanh Minh T đi bộ đến nhà ông Nguyễn Thành H1, bà Phạm Ngọc H2 thuộc ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre, dùng cây kéo mang sẵn trong người cạy cửa sau, đột nhập vào nhà lén lút lấy trộm số tiền 30.000.000 đồng (loại mệnh giá 500.000 đồng) của bà Phạm Ngọc H2 và ông Nguyễn Thanh H1.

Hành vi của bị cáo là hành vi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Minh T đã phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội, trên thực tế bị cáo đã thực hiện việc chiếm đoạt được tài sản như ý định của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.

Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết năng nặng. Xét tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền đã chiếm đoạt để trả lại cho bị hại; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự đã xuất ngũ; bị cáo có cha làm nhiệm vụ quốc tế sau năm 1975; có ông bà cố được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần giao bị cáo về địa phương phối hợp cùng gia đình quản lý, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 20.500.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thu M đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 9.500.000 đồng và bị hại không có yêu cầu gì khác nên ghi nhận.

Bà Nguyễn Thị Thu M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã thay bị cáo bồi thường nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, rỉ sét, có in dòng chữ “STAINLESS STEEL” là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Minh T phạm “Tội trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Minh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/7/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Thanh Minh T về cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre phối hợp cùng với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 20.500.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thu M đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 9.500.000 đồng và bị hại không có yêu cầu gì khác.

- Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thu M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã thay bị cáo bồi thường.

[3] Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, rỉ sét, có in dòng chữ “STAINLESS STEEL”.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Châu Thành với Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).

[4] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Minh T phải chịu là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ