vanban.org

Bản án 32/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 07/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Vô làm chết ng ời”.

Xử phạt bị cáo Phạm Tấn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam là ngày 12/3/2020. Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Phạm Tấn D và Chị Nguyễn Thị H, ông Phan Văn Th, bà Võ Thị Tuyết M (là những ng ời đại diện hợp pháp của Anh Phan Văn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Vô ý làm chết người” - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Vô làm chết ng ời”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST
Ngày 07-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Ba;

2. Ông Bùi Quốc Thìn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Duy Th

T a án nh n d n huyện Bình Sơn t nh Quảng Ng i.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, t nh Qu ng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2020 tại tr s T a án nh n d n huyện Bình Sơn t nh Quảng Ng i xét xử sơ thẩm công hai v án hình sự sơ thẩm th l số: 46/2020/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đ a v án ra xét xử số 82/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 và Quyết định ho n phiên t a số 30/2020/QĐST-HS ngày 27/8/2020 đối với bị cáo:

Phạm Tấn D, sinh ngày 25/4/1987 tại t nh Quảng Ngãi; nơi c trú: Thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Thợ điện n ớc; con ông Phạm Tấn H và bà D ơng Thị D (chết); có vợ là Nguyễn Thị Mỹ H sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2020 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Phan Văn H, sinh năm 1986 (đ chết); nơi c trú tr ớc khi chết: Thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi.

Ng ời đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị H sinh năm 1991 (là vợ bị hại) nơi c trú: Thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi; ông Phan Văn Th sinh năm 1957 và bà Võ Thị Tuyết M sinh năm 1958 (là cha mẹ ruột của bị hại) cùng c trú: Thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

Ng ời có quyền lợi ngh a v liên quan:

- Chị Nguyễn Thị Mỹ H sinh năm 1990; địa ch : Thôn A, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên t a.

- Các cháu Phan Gia H, sinh năm 2014, Phan Nguyễn Gia H, sinh năm 2017; ng ời đại diện hợp pháp của các cháu H, H1: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 (là mẹ ruột của các cháu H, H1); cùng địa ch : Thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên t a.

Ng ời làm chứng:

Các anh Ngô Văn Kh sinh năm 1991 Ngô Văn L sinh năm 1993 Phan Thanh Đ sinh năm 1992 D ơng Đình Ph sinh năm 1988; bà Huỳnh Thị Ngọc V sinh năm 1975; cùng địa ch : Thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên t a.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên t a nội dung v án đ ợc tóm tắt nh sau:

Giữa bị cáo Phạm Tấn D (sau đ y viết tắt là bị cáo D) và Anh Phan Văn H (sau đ y viết tắt là anh H) có mối quan hệ là bạn bè thân thiết và không có mâu thuẫn gì với nhau.

Khoảng 12 giờ ngày 12/3/2020, trong lúc D mang súng tự chế bắn đạn chì đi bắn chim tại thôn V, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi thì nhận đ ợc điện thoại của anh Ngô Văn Kh (là bạn của D và anh H) rủ nhậu nên D đồng sau đó D cầm theo 01 con chim và súng đến v ờn nhà bà Ngô Thị M (là bà ngoại của anh H) tại Thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Ngãi để làm mồi nhậu và cùng nhậu cùng anh H và Kh, một lúc sau thì có anh Ngô Văn L cũng đến tham dự. Trong lúc làm mồi và nhậu, D thấy có 01 con chim tra trả nên lấy súng bỏ đạn vào bắn làm bị th ơng con chim và con chim tra trả bỏ chạy vô bờ rào thì D đ a súng cho L bắn nh ng hông trúng L liền đ a súng lại cho D và D đ bắn chết con chim.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày trong lúc đang nhậu thì hết bia nên L điện thoại rủ Phan Thanh Đ (bạn của anh L) đến nhậu đồng thời bảo Đ mua bia đem đến. Sau đó L ra ng 3 Ph ớc Thiện đón Điệp. Thời điểm này, tại v ờn nhà M còn anh H, bị cáo D và anh Kh. Trong lúc chờ mua bia đem về thì D lấy một viên đạn chì bỏ vào súng rồi ngắm cây cau phía sau v ờn (cách vị trí nhậu khoảng 6 – 7m) bắn thử xem độ chuẩn của súng nh ng bắn không trúng thì anh H thấy vậy nói “Súng bị lệch hả D” bị cáo D nói: “Mày bắn thử đi” anh H không chịu cầm súng bắn mà nói lại “Mày ngồi nhậu đi”. Lúc này bị cáo D t ng súng hông c n đạn nên D cầm súng ch a n ng vào vùng đầu của H để đùa giỡn trong lúc đùa giỡn D có nói với anh H: “Mày tin tao bắn hông” nghe vậy anh H nói lại: “Đừng đùa giỡn nữa” lúc này D bóp cò dẫn đến súng nổ đạn bay trúng vào vùng đầu của anh H làm cho anh H bị th ơng tích. Cùng lúc này Đ và anh D ơng Đình Ph (thợ cửa sắt làm việc cùng anh H) đến nơi xảy ra sự việc; anh Ph lấy xe mô tô ch anh H ngồi giữa, anh Kh ngồi sau đi đến Trung tâm y tế huyện Bình Sơn (cơ s 2) xã B để cấp cứu, bị cáo D cùng với L và Đ cũng cùng đi. Do th ơng tích nặng nên anh H đ ợc đ a đến Bệnh viện Đa hoa t nh Quảng Ngãi cấp cứu sau đó chuyển đến Bệnh viện Đà Nẵng điều trị đến ngày 15/3/2020 thì tử vong; sau hi đ a anh H đi cấp cứu thì bị cáo D đến Công an huyện Bình Sơn đầu thú và bị tạm giữ.

Qua khám nghiệm hiện tr ờng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn, t nh Quảng Ngãi thu giữ 01 khẩu súng có đặc điểm: Dài 01m nơi rộng nhất của súng rộng 20cm; ống n ng súng dài 30cm đ ờng kính ống n ng súng 4 5cm đ ờng kính lỗ nòng súng 01cm, ống nòng súng làm bằng ống nhựa bọc băng eo màu đen; ống hơi n ng súng dài 55cm đ ờng kính ống hơi 01cm; trên ống hơi n ng súng gắn 01 ống nhòm bằng nhựa màu đen dài 43cm đ ờng kính 04cm; báng súng bằng gỗ màu nâu dài 60cm nơi rộng nhất trên báng súng 12cm nơi hẹp nhất báng súng 04cm. Trên báng súng gắn ống kim loại và 01 đồng hồ đo áp suất; bề mặt báng súng có bám dính chất màu n u đỏ.

Bản Kết luận giám định số 16/TgT, ngày 17/3/2020 của Trung tâm pháp y Quảng Ngãi kết luận nguyên nhân chết của anh Hậu nh sau:

- Dấu vết chính qua giám định: Trên đ nh trái có vết th ơng thủng da đầu bám dính máu hô đóng vảy màu đen vết th ơng hình gần tr n đ ờng kính 0,4 cm, bờ mép nham nh , tổ chức não bị dập trồi ra ngoài vết th ơng; trên màng cứng bầm t máu d ới da vùng t ơng ứng xung quanh vết th ơng ích th ớc (15 x 12) cm. T ơng ứng với vết th ơng này trên hộp sọ bị thủng hình gần tr n đ ờng kính 0,7 cm, xung quanh vết th ơng bờ mép nham nh ; d ới màng cứng vùng não thất trái có đám máu t trong vùng ích th ớc (13 x 7) cm; vùng thân não trái, phát hiện 01 mẫu bằng kim loại hình gần tr n đ ờng kính 0,7 cm, dày 0,4 cm.

- Nguyên nhân chết: Tổn th ơng n o xuất huyết và t máu trong não.

- Vết th ơng trên cơ thể tử thi Phan Văn H do kim khí gây ra.

Bản kết luận giám định số 325/KLGĐ-PC09, ngày 25/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Quảng Ngãi kết luận nh sau: Khẩu súng giám định là vũ hí có tính năng tác d ng t ơng tự súng săn (súng hơi) hông phải vũ hí qu n d ng; không đủ yếu tố giám định xác định mẫu vật bằng kim loại, hình gần tr n đ ờng kính 0,7 cm, dày 0,4 cm có phải do khẩu súng săn bắn ra hay không; 20 (hai m ơi) viên đạn chì chứa trong túi ni lông gửi giám định có thể sử d ng để bắn đ ợc khẩu súng săn nêu trên.

Bản kết luận giám định số 418/KLGĐ-PC09, ngày 15/6/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Quảng Ngãi kết luận nh sau: Trên khẩu súng tự chế có bám dính máu ng ời, do l ợng máu quá ít nên hông xác định đ ợc nhóm máu hệ A.B.O, chất màu nâu ghi thu tại hiện tr ờng là máu ng ời (do mẫu máu đựng trong túi nylon lâu nên bị phân hủy hông xác định đ ợc nhóm máu hệ A.B.O); không xác định đ ợc nhóm máu hệ A.B.O mẫu máu ghi thu của tử thi Phan Văn H (do mẫu máu đựng trong túi nylon l u nên đ bị phân hủy).

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-BS, ngày 07/7/2020 của Viện iểm sát nhân dân huyện Bình Sơn t nh Quảng Ng i truy tố bị cáo Phạm Tấn D về tội “Vô làm chết ng ời” theo hoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đ y viết tắt là Bộ luật Hình sự). Tại phiên t a đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bình Sơn giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo D phạm tội “Vô làm chết ng ời” và áp d ng hoản 1 Điều 128, điểm b, s hoản 1 hoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D từ 42 đến 48 tháng tù; về d n sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về d n sự đối với hoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 150.000.000 đồng và cấp d ỡng nuôi con đối với cháu H, H1 mỗi cháu mỗi tháng 1.500.000 đồng; về vật chứng: Đề nghị tiêu hủy 01 hẩu súng nêu trên, 01 (một) mẫu bằng kim loại và 01 bao nylon chứa 17 viên đạn viên đạn chì.

Tại phiên t a bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội vô ý làm chết ng ời là đúng ng ời đúng tội hông oan; về mức hình phạt thì bị cáo cho rằng là nặng vì bị cáo ch vô g y ra cái chết của anh H và mong muốn h ng mức án thấp nhất để bị cáo sớm quay tr lại x hội để làm việc có cơ hội điều iện hắc ph c hậu quả mà mình g y ra đối với bị hại.

Những ng ời đại diện hợp pháp của bị hại cho rằng: Khi thực nghiệm điều tra hông có ng ời làm chứng đại diện hợp pháp bị hại; hi chị H đến hiện tr ờng thì nghe ng ời hác nói bị cáo D dùng gạch đập vào đầu anh H, c y súng đ ợc tìm thấy vị trí hác so với nơi xảy ra sự việc bị cáo D có hành vi kéo anh H (dùng tay ẹp nách anh H) đi một đoạn so với hiện tr ờng và cho rằng nếu vô nếu đùa giỡn thì tại sao lại ch a súng vào đầu rồi bắn mong các cơ quan tiến hành tố t ng xem xét bị cáo D có dấu hiệu cố t ớc đoạt tính mạng anh H hay không. Mặc dù trình bày những nội dung này nh ng qua tranh luận thì đại diện hợp pháp bị hại thống nhất với tội danh nh Viện iểm sát truy tố và xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo (chị H đề nghị giảm mức hình phạt từ 01 đến 02 năm ông Th đề nghị giảm một nữa mức hình phạt so với mức đề nghị tối thiểu của đại diện Viện iểm sát; c n bà M thì đề nghị ch nên xử phạt bị cáo hoảng 02 năm tù).

Tranh luận với iến của bị cáo và những ng ời đại diện hợp pháp của bị hại về các vấn đề nêu trên đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bình Sơn vẫn nh nguyên quan điểm về tội danh mức hình phạt đ đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đ đ ợc tranh t ng tại phiên t a Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Điều tra viên Viện iểm sát Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đ đ ợc thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo hông có iến hiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng ng ời tiến hành tố t ng nên các hành vi quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng ng ời tiến hành tố t ng đ thực hiện trong v án là hợp pháp.

Tại phiên t a, bị cáo D khai nhận hành vi của bị cáo nh mô tả trong cáo trạng đ truy tố và xác nhận việc anh H chết là do hành vi của bị cáo vô gây ra; bị cáo đại diện hợp pháp của bị hại và những ng ời làm chứng nh anh Ngô Văn Kh, anh D ơng Đình Ph đều hai giữa bị hại và bị cáo là bạn bè th n thiết từ nhỏ hông có m u thuẫn gì tr ớc ngày phạm tội giữa bị cáo và bị hại có việc cùng nhau đi bắn chim có trêu đùa bằng việc ch a súng vào ng ời nhau; anh Kh và anh Ngô Văn L khai ngay tr ớc và tại thời điểm xảy ra sự việc thì giữa bị cáo và anh H tr chuyện vui vẻ không có biểu hiện mâu thuẫn gì.

Lời hai của bị cáo phù hợp với lời hai của những ng ời tham gia tố t ng hác và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án; do đó, có cơ s đủ cơ s xác định: Bị cáo D và anh H là bạn bè thân thiết với nhau và không có mâu thuẫn, xích mích gì; khẩu súng do bị cáo D tự chế sử d ng loại đạn chì, cứ mỗi lần sử d ng (mỗi lần bắn) thì bỏ vào súng một viên đạn chì tr ớc khi bắn. Vào ngày 12/3/2020, trong lúc ngồi nhậu thì D bỏ một viên đạn vào súng và bắn thử vào cây cau nh ng hông trúng sau khi bắn xong ngh súng hông c n đạn nên D đùa giỡn, cầm súng ch a vào đầu anh H bóp cò dẫn đến súng nổ làm anh H bị th ơng sau đó bị cáo cùng những ng ời làm chứng đ a anh H đi cấp cứu, do vết th ơng nặng nên anh H đ chết; nguyên nhân anh H chết và cơ chế hình thành vết th ơng vùng đầu của anh H phù hợp với mô tả diễn biến hành vi của bị cáo, phù hợp với kết luận giám định và kết quả thực nghiệm điều tra.

Với diễn biến hành vi nêu trên, thể hiện thức chủ quan của bị cáo D hông có định và cũng hông có động cơ, m c đích t ớc đoạt tính mạng của anh H; bị cáo thấy tr ớc đ ợc hành vi của mình có thể g y ra hậu quả nguy hiểm chết ng ời nh ng tin rằng hậu quả đó sẽ hông xảy ra cho rằng súng hông có đạn nên hông iểm tra súng có hay hông có đạn; việc anh H chết là ngoài muốn chủ quan của bị cáo. Bị cáo D là ng ời có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đ có hành x m phạm đến tính mạng của ng ời hác với lỗi vô nên hành vi của bị cáo D đủ yếu tố cấu thành tội “Vô làm chết ng ời”; tội phạm và hung hình phạt quy định tại hoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự.

Đối với khẩu súng do bị cáo D sử d ng, quá trình điều tra xác định: Khẩu súng do bị cáo đặt mua ph kiện trên mạng về lắp ráp sử d ng là vũ hí có tính năng tác d ng t ơng tự súng săn (súng hơi), không phải vũ hí qu n d ng; do bị cáo D ch a bị xử l hành chính ch a bị kết án về hành vi nêu trên nên hành vi sử d ng súng hơi của D không đủ yếu tố cấu thành tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử d ng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn vũ hí thô sơ vũ hí thể thao hoặc công c hỗ trợ” theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đ đề nghị Công an huyện Bình Sơn xử lý hành chính về hành vi sử d ng súng nêu trên là có căn cứ.

Sau hi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đ bồi th ờng một phần thiệt hại; quá trình điều tra truy tố xét xử đ thành hẩn hai báo thể hiện thái độ ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo đ đến cơ quan điều tra để đầu thú, bị cáo là lao động chính trong gia đình và đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đ ợc h ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s hoản 1 hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ s đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi phạm tội các tình tiết giảm nhẹ tăng nặng trách nhiệm hình sự và nh n th n của bị cáo nh đ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải bắt bị cáo chấp hình phạt tù tại cơ s giam giữ trong thời hạn nhất định để cải tạo, giáo d c bị cáo tr thành ng ời có ích cho x hội có thức tu n thủ pháp luật ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới đồng thời giáo d c ng ời hác tôn trọng pháp luật góp phần đấu tranh và ph ng chống tội phạm.

Về trách nhiệm d n sự:

Quá trình điều tra giữa đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đ thỏa thuận, bồi th ờng xong chi phí điều trị th ơng tích tiền xe ch bị hại đi cấp cứu và tiền mai táng là 90.000.000 đồng (chín m ơi triệu đồng); đại diện bị hại đ nhận đủ số tiền nêu trên và không yêu cầu gì thêm đối với các khoản chi phí này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại thỏa thuận đ ợc với nhau về phần dân sự, c thể là bị cáo Dũng có ngh a v bồi th ờng khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những ng ời thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại số tiền là 150.000.000 đồng (một trăm năm m ơi triệu đồng) và có ngh a v cấp d ỡng nuôi con đối với các cháu Phan Gia H, Phan Nguyễn Gia H (là con của anh H, chị H) mỗi cháu mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) tính từ thời điểm tính mạng anh H bị xâm phạm (tức là tháng 3/2020) cho đến khi các cháu H, H1 đủ 18 tuổi.

Sự thỏa thuận nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội đồng thời thỏa thuận về cấp d ỡng phù hợp với thu nhập hả năng thực tế của bị cáo phù hợp với nhu cầu thiết yếu và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cháu H, H1 nên đ ợc ghi nhận.

Về vật chứng:

01 (một) khẩu súng săn (súng hơi) là của bị cáo D đ ợc sử d ng vào việc phạm tội và thuộc loại cấm sử d ng nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) mẫu bằng kim loại, hình gần tr n có đ ờng kính 0,7 cm, dày 0,4 cm; 01 (một) bao nylon chứa 17 viên đạn viên đạn chì không còn giá trị sử d ng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Bình Sơn về tội danh đối với bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị về d n sự xử l vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đ ợc chấp nhận; riêng về mức hình phạt có phần nghiêm hắc với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo.

Xem xét các iến của đại diện hợp pháp của bị hại (về các vấn đề nh thực nghiệm điều tra bị cáo D dùng gạch đập vào đầu anh H súng đ ợc tìm thấy vị trí hác so với nơi xảy ra sự việc bị cáo D có hành động giấu xác anh D và có hay hông dấu hiệu cố t ớc đoạt tính mạng anh H) Hội đồng xét xử xét thấy:

Việc thực nghiệm điều tra trong v án này đ đ ợc Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Sơn tiến hành công hai tại hiện tr ờng nơi xảy ra sự việc và tu n thủ đúng quy định tại Điều 204 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015; bị hại hoặc ng ời làm chứng ch tham gia vào việc thực nghiệm điều tra khi cần thiết chứ hông phải bắt buộc trong mọi tr ờng hợp.

Chị H hông trực tiếp chứng iến sự việc mà ch nghe ng ời hác nói về việc bị cáo D đập gạch vào đầu anh H và chị H cũng hông xác định đ ợc ai là ng ời nói nội dung này trong hi đó ết quả hám nghiệm tử thi và các ết luận giám định thể hiện trên cơ thể của anh H hông có vết th ơng do gạch tác động; bị cáo và ng ời làm chứng có mặt tại hiện tr ờng đều xác nhận hông có việc bị cáo D dùng gạch đập vào đầu của anh H nh chị H trình bày.

Theo ết quả hám nghiệm hiện tr ờng thể hiện hẩu súng đ ợc tìm thấy thu giữ vị trí hác so với nơi xảy ra sự việc nh ng vị trí này vẫn thuộc hu vực v ờn bà M; bị cáo và ng ời làm chứng đều hông thừa nhận có việc vứt hẩu súng. Tuy hông xác định đ ợc ai là ng ời vứt hẩu súng nh ng việc hông chứng minh đ ợc vấn đề này không làm thay đổi bản chất v án hông ảnh h ng đến ết quả chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Theo bà V hai hi đến hiện tr ờng phát hiện bị cáo có hành vi ẹp nách anh H để dịch chuyển theo h ớng phía đ ờng thì bà liền chạy đi hô hoán hông đến trực tiếp iểm tra; còn bị cáo khai thời điểm đó bị cáo đang cố gắng làm cho anh H t nh dậy di chuyển anh H ra bên ngoài để đ a anh H đi cấp cứu. Lời hai của bị cáo về vấn đề này phù hợp với lời hai của những ng ời làm chứng hác nh anh Đ, anh Kh về tình tiết sau hi xảy ra sự việc thì bị cáo có ngồi ôm cơ thể anh H và hóc sau đó đứng ôm đỡ cơ thể anh H để di chuyển ra phía ngoài đ ờng đ a đi cấp cứu; hơn nữa, v ờn bà M đ ợc rào l ới B40 thuộc hu vực đông d n c xung quanh do đó việc đại diện hợp pháp của bị hại cho rằng bị cáo có hành động giấu xác anh H ch mang tính chất suy diễn và hông phù hợp với diễn biến thực tế cũng nh t m l tội phạm.

Tổng hợp các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án và các tình tiết hác nh đ nhận định nêu trên mặc dù trong v án này có xảy ra hậu quả chết ng ời nh ng thức chủ quan và hành vi khách quan của bị cáo không thỏa m n dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội giết ng ời. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn h i tố và Viện iểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố đối với bị cáo D về tội “Vô làm chết ng ời” là phù hợp có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng) án phí d n sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự và các Điều 23, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v Quốc hội,

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Vô làm chết ng ời”.

2. Căn cứ hoản 1 Điều 128, các điểm b, s hoản 1 hoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Phạm Tấn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam là ngày 12/3/2020.

3. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, các Điều 584 585 và 591 của Bộ luật D n sự năm 2015,

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Phạm Tấn D và Chị Nguyễn Thị H, ông Phan Văn Th, bà Võ Thị Tuyết M (là những ng ời đại diện hợp pháp của Anh Phan Văn H) về bồi th ờng thiệt hại d n sự c thể: Bị cáo Phạm Tấn D có ngh a v bồi th ờng hoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 150.000.000 đồng (một trăm năm m ơi triệu đồng) cho những ng ời thân thích thuộc hàng thừa ế thứ nhất của Anh Phan Văn H (bao gồm Chị Nguyễn Thị H, ông Phan Văn Th, bà Võ Thị Tuyết M và các cháu Phan Gia H, Phan Nguyễn Gia H) và có ngh a v cấp d ỡng đối với các cháu Phan Gia H, sinh ngày 14/9/2014, Phan Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/02/2017 (do Chị Nguyễn Thị H là đại diện theo pháp luật), mỗi cháu mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), thời điểm cấp d ỡng tính từ tháng 3/2020 cho đến khi các cháu H, H1 đủ 18 tuổi.

4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến hi thi hành án xong bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền l i của số tiền c n phải thi hành án theo mức l i suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật D n sự năm 2015.

5. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mẫu bằng kim loại, hình gần tr n có đ ờng kính 0,7 cm, dày 0,4 cm; 01 (một) bao nylon chứa 17 viên đạn viên đạn chì và 01 (một) khẩu súng săn (súng hơi) có đặc điểm: Dài 01m nơi rộng nhất của súng rộng 20cm, ống n ng súng dài 30cm đ ờng kính ống nòng súng 4,5cm, đ ờng kính lỗ nòng súng 01cm, ống nòng súng làm bằng ống nhựa bọc băng eo màu đen; ống hơi n ng súng dài 55cm đ ờng kính ống hơi 01cm, trên ống hơi n ng súng gắn 01 ống nhòm bằng nhựa màu đen dài 43cm đ ờng kính 04cm, báng súng bằng gỗ màu n u dài 60cm nơi rộng nhất trên báng súng 12cm nơi hẹp nhất báng súng 04cm, trên báng súng gắn ống kim loại và 01 đồng hồ đo áp suất (theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 24/8/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn và Chi c c Thi hành án d n sự huyện Bình Sơn t nh Quảng Ng i).

6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 và các Điều 23, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án,

Buộc bị cáo Phạm Tấn D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng) án phí d n sự sơ thẩm.

7. Bị cáo đại diện hợp pháp của bị hại và ng ời có quyền lợi ngh a v liên quan có mặt tại phiên t a có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.

8. Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì ng ời đ ợc thi hành án d n sự ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 7a và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Cỡ chữ