vanban.org

Bản án 32/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Danh H phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

1/ Áp dụng: Khoản 1 , Điều 173; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điểm h , khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Xử phạt : Phùng Danh H 15 tháng tù (Mười lăm tháng). Thời hạn tù kể từ ngày 14/01/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHÙNG DANH H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Danh H phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B - TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST
Ngày 29/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Trung Th Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phan Văn V

- Ông Nguyễn Xuân Th Thư ký Tòa án nhân dân huyện B: Bà Vũ Thị Phương L,Thư ký Tòa án nhân dân huyện B - tp Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B: Ông Lê Văn A,Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B. Toà án nhân dân huyện B đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: hồ sơ vụ ánhình sự sơ thẩm thụ lý số : 21/2020/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 20/2020/ QĐXXST- HS ngày 01/4/2020 đối với bị cáo :

Phùng Danh H - sinh năm: 1988; HKTT: Thôn Nương Tụ, xã Phú Sơn , huyện B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phùng Danh Sỹ - sinh năm 1959, Con bà: Phùng Thị T - sinh năm: 1957; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Tại bản án hình sự số 72/HSST, ngày 20/07/2016 của của TANDTX Sơn Tây xử phạt Phùng Danh H 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Án phí HSST H pH nộp 200.000đ. H chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 09/05/2019, phần án phí HSST 200.000 đ ( hai trăm nghìn đồng) , H đã chấp hành xong; Nhân thân: Tại bản án hình sự số 61 ngày 17/02/2012 của TAND thị xã Sơn Tây xử phạt Phùng Danh H 06 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản. Trị giá tài sản do H hủy hoại là 6.000.000đ ( sáu triệu đồng). H kháng cáo xin hưởng án treo. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 544 ngày 27/04/2012 của TAND Thành phố Hà Nội xử y án sơ thẩm. H chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 11/03/2013. Phần án phí HSST 200.000đ, án phí DSST là 225.000đ, tổng cộng là 425.000đ ( bốn trăm, hai mươi lăm nghìn đồng), H đã chấp hành xong. Bị cáo H bị bắt tạm giữ và bị tạm giam tại trại số 01 CATP Hà Nội, từ ngày 14/01/2020 cho đến nay . Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Bị hại: Anh Chu Thời C – sinh năm 1986

TQ: Thôn Vật Yên, xã Vật Lại, huyện B, Tp Hà Nội.

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Phùng Duy H – sinh năm 1990

TQ: Thôn Nương Tụ, xã Phú Sơn, huyện B, Tp Hà Nội

+ Bà Phùng Thị T – sinh năm 1969

TQ: Thôn Nhông Nương Tụ, xã Phú Sơn, huyện B, Tp Hà Nội

+ Chị Nguyễn Thị Thu H1 – sinh năm 1986

TQ: Thôn Vân Trai, TT Tây Đằng, huyện B, Tp Hà Nội

( Anh C, anh H,chị H1 vắng mặt, bà T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được thể hiện như sau :

Khoảng 7 giờ 30 ngày 02/01/2020, Phùng Danh H SN 1988, trú tại thôn Nương Tụ, Phú Sơn - B - Hà Nội, một mình điều khiển xe máy Honda Wave S, màu đỏ đen, BKS: 33P4-4434 đi chơi, khi đi qua khu vực thôn Vật Yên, Vật Lại, B, Hà Nội thấy nhà anh Chu Thời C SN1986, trú tại thôn Vật Yên ,Vật Lại, B, Hà Nội không có ai ở nhà, cửa nhà được khép, cửa cổng được cài then chốt phía chân cửa. H thấy có sơ hở nên nảy sinh mục đích trộm cắp tài sản. Để thực hiện ý định, Phùng Danh H đi đến cổng nhà anh C dựng xe máy xuống, mở cửa cổng ra và điều khiển xe moto của mình đi thẳng vào trong sân và nói to nhiều lần"có ai ở nhà không" (mục đích để H xem lần nữa có ai ở trong nhà không) thì không thấy ai trả lời. Sau đó, H dựng xe mô tô để ở sân, đi bộ vào trong nhà. H mở cửa đi vào bên trong nhà để quan sát thấy 01 chiếc tivi Sony 40 inch, màu đen treo trên tường. H tiến lại gần rút bỏ ổ điện của tivi, rồi nhấc chiếc tivi đem ra xe máy của H đang để ở sân. Sau đó, H điều khiển xe moto chở tivi vừa trộm cắp được về nhà, cất vào trong buồng ngủ của nhà H. Đến ngày 04/01/2020 H đem bán chiếc tivi mà H trộm được ngày 02/01/2020 cho anh Phùng Duy H SN-1990, trú tại Phú Sơn, B, Hà Nội được 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Số tiền này H đã tiêu sài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản trong TTHS huyện B xác định Trị giá chiếc chiếc tivi Sony 40 inch do H trộm cắp của gia đình anh C ngày 02/01/2020 là 4.000.000đ ( bốn triệu đồng).

Đối với Phùng Duy H SN:1990; HKTT xã Phú Sơn - B - Hà Nội đã mua chiếc tivi nhãn hiệu Sony 40 inch, màu đen, đã qua sử dụng của Phùng Danh H, do anh H nghĩ đó là tài sản của H, không biết chiếc tivi do H trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện B nhắc nhở rút kinh nghiệm.

Về vật chứng của vụ án CQĐT đã tạm giữ:

- 01 (một) tivi, nhãn hiệu Sony 40 inch, màu đen, đã qua sử dụng do Phùng Duy H (SN:1990; HKTT: xã Phú Sơn - B - Hà Nội) tự nguyện giao nộp.

- 01 đăng ký môtô, xe máy số 002660 ngày 1/4/2008 (tên chủ xe Nguyễn Thị Thu H1 1986, địa chỉ Quang Húc - Đông Quang - B - Hà Nội) do Phùng Thị Thanh (SN: 1990; HKTT: xóm Đông - Phú Sơn - B - Hà Nội) tự giao nộp

- 01 (một) chiếc xe moto, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đỏ, đen, xám, số BKS: 33P4-4434 (không kiểm tra chất lượng máy bên trong, xe đã qua sử dụng) là chiếc xe moto mà H đã dùng để đi trộm cắp ngày 2/1/2020. Nguồn gốc chiếc xe là của chị Nguyễn Thị Thu H1 1986, địa chỉ Quang Húc - Đông Quang - B - Hà Nội) chị H1 mua năm 2008 tại cửa hàng Dung Vượng. Sau đó chị H1 đã bán cho Anh Chu Quang Sáng SN 1952, trú tại Đông Lâu, Phú Đông, B, Hà Nội vào khoảng tháng 11 năm 2012. Sau đó anh Sáng đã bán chiếc xe nêu trên cho bà Phùng Thị T SN 1968 ( mẹ đẻ của H) ở Nương Tụ, Phú Sơn - B - Hà Nội. Về xử lý vật chứng của vụ án CQĐT đã tạm giữ:

- 01 (một) tivi, nhãn hiệu Sony 40 inch, màu đen, đã qua sử dụng CQĐT đã trả lại cho anh Chu Thời C ngày 17/02/2020.

- 01 đăng ký môtô, xe máy số 002660 ngày 1/4/2008 (tên chủ xe Nguyễn Thị Thu H1 1986, địa chỉ Quang Húc - Đông Quang - B - Hà Nội) và 01 chiếc xe moto, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đỏ, đen, xám, BKS: 33P4-4434 chiếc xe moto mà H đã dùng để đi trộm cắp ngày 02/01/2020, CQĐT đã trả lại cho bà Phùng Thị T ngày 09/02/2020.

Về dân sự: anh Chu Thời C đã được nhận chiếc tivi nhãn hiệu Sony, màn hình phẳng, màu đen, loại 40 ich, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Anh Phùng Duy H không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số : 19/CT- VKS ngày 20 tháng 3 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện B để xét xử bị cáo Phùng Danh H về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu luận tội, giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố. Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ xung.

Về vật chứng vụ án: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu, đề nghị gì khác nên không xem xét.

Đối với chiếc xe moto, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đỏ, đen, xám, BKS: 33P4-4434 và 01 đăng ký môtô, xe máy số 002660 ngày 1/4/2008 (tên chủ xe Nguyễn Thị Thu H1 1986, địa chỉ Quang Húc - Đông Quang - B - Hà Nội) chiếc xe moto mà H đã dùng để đi trộm cắp ngày 02/01/2020, CQĐT đã trả lại cho bà Phùng Thị T ngày 09/02/2020. Các bên đều không có yêu cầu gì nên không xem xét. Người liên quan là anh H không có yêu cầu gì đòi lại số tiền mua ti vi là 800.000,đ nên buộc bị cáo H pH nộp lại để xung công quỹ nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tại liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa ;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phùng Danh H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội khẩn cấp, lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản thu giữ tang vật CQĐT và các tài liệu chứng cứ thu thập được đã có trong hồ sơ vụ án. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở xác định cơ sở xác định vào khoảng 7 giờ 30 ngày 02/01/2020 bị cáo Phùng Danh H đã có hành vi lén lút vào nhà ở của anh Chu Thời C để trộm cắp chiếc ti vi nhãn hiệu Sony 40 inch, màu đen, đã qua sử dụngtrị giá 4.000.000,đ. Hành vi nêu trên của bị cáo Phùng Danh H đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, đúng với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm về quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác và được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, làm mất ổn định trật tự an ninh địa phương . Vì vậy, việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt :

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích của bản án hình sự số 72/HSST, ngày 20/07/2016 của của TANDTX Sơn Tây xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản, thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phùng Danh H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Tại bản án hình sự số 61 ngày 17/02/2012 của TAND thị xã Sơn Tây xử phạt Phùng Danh H 06 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Về quyết định hình phạt: Đối với bị cáo Phùng Danh H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có hai bản án kết tội về tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân và đều bị buộc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian . Nhưng bị cáo H không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh răn đe mình, vẫn tiếp tục lấn sâu vào con đường phạm tội, không chịu tu dưỡng rèn luyện lao động để trở thành một công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự coi thường Pháp luật. Bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm nên cần pH áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo cũng thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên HĐXX cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000đ đến 50.000.000đ xét thấy bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, do vậy HĐXX miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Anh Chu Thời C đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu, đề nghị gì khác nên không xem xét.

Đối với chiếc xe moto, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đỏ, đen, xám, BKS: 33P4-4434 chiếc xe moto mà H đã dùng để đi trộm cắp ngày 02/01/2020 và 01 đăng ký môtô, xe máy số 002660 ngày 1/4/2008 (tên chủ xe Nguyễn Thị Thu H1 1986, địa chỉ Quang Húc - Đông Quang - B - Hà Nội) chiếc xe moto mà H đã dùng để đi trộm cắp ngày 02/01/2020, CQĐT đã trả lại cho bà Phùng Thị T ngày 09/02/2020. Các bên đều không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về vấn đề khác: Đối với anh Phùng Duy H đã mua chiếc tivi nhãn hiệu Sony 40 inch, màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo, do anh H nghĩ đó là tài sản của H, không biết chiếc tivi do H trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện B nhắc nhở rút kinh nghiệm là đúng quy định của pháp luật. Anh H không có yêu cầu dân sự gì trong vụ án này nên HĐXX không xem xét. Anh H không có yêu cầu gì đòi lại số tiền mua ti vi là 800.000,đ nên buộc bị cáo H pH nộp lại số tiền thu lời bất chính để xung công quỹ nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phùng Danh H phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

1/ Áp dụng: Khoản 1 , Điều 173; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điểm h , khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Xử phạt : Phùng Danh H 15 tháng tù (Mười lăm tháng). Thời hạn tù kể từ ngày 14/01/2020.

2/ Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

3/ Về xử lý vật chứng và các biên pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 BLTTHS. Buộc bị cáo H pH nộp lại số tiền 800.000,đ (Tám trăm ngàn đồng) thu lời bất chính để xung công quỹ nhà nước

4/ Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo pH nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều Điều 331 BLTTHS năm 2015.

Bị cáo H , bà T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại , người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

T.M Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm N¬i nhËn:

ThÈm ph¸n - Chñ To¹ phiªn Toµ

- TAND Tp. Hµ Néi;

- VKSND Ba V×;

- C«ng an Ba V×;

- T.H.A Ba V×; -Nh÷ng ngêi tham gia tè tông; -Lưu HS

Đặng Trung Thành

Cỡ chữ