- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T1 cùng đồng phạm Gảy rôi trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? 1. Căn cứ khoản 1 Điều 318; các điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/11/2…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁNNHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2020/HS-PT Ngày 17- 8- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Văn Thịnh
Các Thẩm phán:
Bà Bùi Thị Thảo
Ông Nguyễn Đức Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2020/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Đặng Văn T1, sinh năm 1974 tại thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà …, ngõ 1…, đường N, phố P, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L (liệt sỹ) và bà Đinh Thị M; có vợ Lê Thị H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/11/2019 đến ngày 02/12/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
2. Nguyễn Như Q1, sinh năm 1994 tại huyện H, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số: 113-QĐ/UBKTHU ngày 08/5/2020 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy H, tỉnh Ninh Bình; con ông Nguyễn Như T (đã chết)và bà Lê Thị N; có vợ Hoàng Thị Đ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/11/2011 bị Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 24/11/2011; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Ngoài ra trong vụ án còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn T1, Nguyễn Như Q1 làm nghề lái xe taxi cho hãng taxi X địa điểm bắt khách tại khu vực Bệnh viện sản nhi tỉnh Ninh Bình thuộc phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 22/11/2019, Đặng Văn T1 đỗ xe taxi tại khu vực sân trước của khoa cấp cứu Bệnh viện sản nhi tỉnh Ninh Bình để đón khách. Lúc này T1 thấy anh Vũ Việt A, sinh năm 1991 trú tại thôn L, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình cũng là lái xe taxi hãng X đã đón được khách lên xe của mình rồi nhưng vẫn tiếp tục đứng đón khách khác, Trung bức xúc và ngồi trong xe taxi của mình nói ra “Có khách thì để người khác hỏi”, A nói lại “Thằng nào có mồm thì đứng ra mà hỏi khách”, thấy vậy T1 xuống xe và tiến lại phía A đang đứng vừa đi vừa chỉ tay và nói “Mày đón khách vậy anh em làm sao được”. Lúc này Nguyễn Như Q1 đang đứng bên cạnh xe taxi của Q1 đậu ngay phía trước xe taxi của A thấy T1 nói vậy thì nghĩ T1 nói mình nên Q1 chửi tục và nói “Tôi có khách rồi, tôi thèm vào bắt khách, ông nhìn tôi đứng đây nãy giờ đã hỏi ai chưa?”, T1 thấy Q1 nói thế liền lao vào dùng tay phải của mình tát vào mặt Q1 một cái, Q1 định đánh lại nhưng được anh Đàm Tiến N, sinh năm 1985, trú tại thôn C, xã T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình cũng là lái xe taxi hãng X và anh Vũ Việt A can ngăn nhưng T1 và Q1 vẫn đứng chửi bới, thách thức nhau, T1 lại tiếp tục lao vào đấm Q1, Q1 cũng lao vào dùng tay chân đánh trả lại T1, sau đó Q1 mở cốp xe taxi của mình để tìm tuýp sắt nhưng có sự can ngăn của nhiều người nên Q1 lại đóng cốp xe taxi lại. Thấy Q1 mở cốp xe định lấy đồ để đánh mình, T1 bực tức lấy điện thoại gọi điện cho con trai mình là Đặng Tiến S (thường gọi là T), sinh năm 1993, trú tại phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình để thông báo việc bị Q1 đánh tại Bệnh viện sản nhi Ninh Bình, thì bất ngờ Q1 lại lao vào dùng chân đạp T1 01 phát làm T1 bị rơi điện thoại xuống đất. T1 lúc này thấy Q1 lao vào đánh mình nên lại tiếp tục lao vào đánh nhau với Q1 trước sự can ngăn của mọi người. Sau khi được mọi người can ra thì Q1 đi về xe taxi của mình còn T1 đi ra đứng gần nhà đăng ký khám bệnh lấy điện thoại ra gọi điện cho S. Lúc này Đặng Tiến S và Dương Văn V, sinh năm 1995, trú tại phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình đang ngồi trên xe ô tô do anh Đặng Thanh T2, sinh năm 1998 trú tại phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là em trai S điều khiển, điện thoại của S lúc này đang kết nối với loa ô tô khi thấy có cuộc gọi T2 ấn trả lời do kết nối với loa ô tô đang mở to nên S, T2 và V đều nghe được T1 nói “Bố bị chúng nó đánh trong bệnh viện con vào luôn”, nghe thấy T1 nói thế T1 nói “Vâng, con vào luôn”. Ngay sau đó V chủ động lấy điện thoại gọi cho Dương Văn Q2, sinh năm 1997, trú tại phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là em trai V1. Lúc này Dương Văn Q2 đang điều khiển xe mô tô chở Vũ Mạnh Q3, sinh năm 1999, trú tại phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình đi chơi thì Dương Văn Q2 nhận được điện thoại của V nói “Bác T1 bị taxi cầm tuýp đánh tại Bệnh viện sản nhi đến xem sao”, Dương Văn Q2 nói với Vũ Mạnh Q3 “Bác T1 bố anh S bị đánh trong viện nhi”, Vũ Mạnh Q3 nghe Dương Văn Q2 nói vậy nhưng không nói gì. Dương Văn Q2 sau khi nhận được điện thoại của V liền chở Vũ Mạnh Q3 đến nhà bác ruột Lê Thị H, sinh năm 1976 ở phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (nhà mẹ đẻ của Đặng Tiến S), Dương Văn Q2 bảo Vũ Mạnh Q3 vào trong bếp lấy 01 chiếc gậy bóng chày bằng kim loại, màu đen dài khoảng 70 đến 80 cm, sau đó mang ra rồi cùng Dương Văn Q2 đi đến Bệnh viện sản nhi Ninh Bình. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Đặng Thanh T2 điều khiển xe ô tô (chưa xác định được biển kiểm soát) chở S, V đi đến Bệnh viện sản nhi Ninh Bình, S và V xuống xe, S đi trước tiến lại chỗ Đặng Văn T1 đang đứng bên cạnh nhà tiếp nhận bệnh nhân hỏi “Thằng nào đánh bố”, T1 chưa kịp trả lời thì Q1 đang ở chỗ taxi của mình nói “Tao đây” và đi lại về phía S, nghe thấy vậy S lao về phía Q1 dùng tay đấm liên tiếp vào mặt của Q1, V thấy thế cũng chạy lại đấm, đá Q1, T1 cũng chạy lại chỗ S và V đang đánh Quân, T1 dùng tay ôm đầu, túm tóc Q1 ghì xuống, T2 ngồi trên xe ô tô thấy S và V chạy lao về phía Q1 nên cũng xuống xe chạy đến dùng chân đạp liên tiếp vào mặt Q1. Q1 bị S, T2, V đánh ngã xuống đầu va vào bánh xe một chiếc ô tô màu trắng từ phía trong sân khoa cấp cứu đi ra. Q1 tiếp tục bị T1 ôm đầu ghì ấn xuống và bị T2 túm tóc giật xuống và dùng chân đạp liên tiếp nhiều phát vào đầu. Lúc này có một người thanh niên mặc quần màu đen (chưa xác định được nhân thân lai lịch) và ông Mai Văn X, sinh năm 1957 trú tại phố N, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (là bảo vệ bệnh viện) đến can ngăn không để nhóm S đánh Q1 nữa. Sau đó, Q1 đi về xe taxi của mình đứng thì người thanh niên mặc áo thun màu đen, quần dài màu đen kia gọi T2 lại chỗ Q1 để nói chuyện thì T2 lại tiếp tục lao vào dùng tay đánh Q1. Cùng lúc này, Dương Văn Q2 và Vũ Mạnh Q3 đi xe mô tô đến, Dương Văn Q2 tay cầm gậy bóng chày đi về phía đầu xe của Q2 thì S can ra, sau đó Q2 dựng gậy bóng chày ở phía đầu xe bên phải xe taxi của Q1 và nói với Q1 “đi ra ngoài nói chuyện xin lỗi bác T1 cho xong”, ngoài ra Q2 không có hành động chửi bới, đe dọa, đánh Q1. Còn Vũ Mạnh Q2 khi nhìn thấy Quân liền chạy lao tới đạp 01 phát vào lưng của Q1, T1 tiếp tục túm áo Q1 để đánh thì được mọi người can ra. T1 lấy chiếc gậy bóng chày dựng ở phía đầu xe bên phải xe taxi của Q1 thì cầm lên đem về xe của mình để cất với mục đích không để nhóm S dùng gậy đánh Q1. Nhưng do không mở được xe taxi nên T1 lại cầm chiếc gậy bóng chày đi ra phía nhóm của S đang đứng, lúc này Dương Văn V giật chiếc gậy bóng chày trên tay T1 đem lên xe ô tô và cùng S, T1 bỏ đi, Dương Văn Q2 và Vũ Mạnh Q3 sau đó cũng lấy xe mô tô bỏ đi. Nguyễn Như Q1 sau khi đánh nhau bị thương tích vùng mũi, xây sát tay chân được đưa đến Bệnh viện quân y 5, tỉnh Ninh Bình để điều trị đến ngày 29/11/2019 thì ra viện. Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy J3 màu vàng lắp sim số 0382171… do Đặng Văn T1 tự giao nộp.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình xét xử và quyết định: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Căn cứ khoản 1 Điều 318; các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/11/2019 đến ngày 02/12/2019.
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q1 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt từ 6 tháng tù đến 12 tháng tù đối với các bị cáo Dương Văn V, Nguyễn Mạnh Q3; xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21 tháng 5 năm 2020 bị cáo Nguyễn Như Q1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án và xin hưởng án treo.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020 bị cáo Đặng Văn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Bị cáo Đặng Văn T1 trình bày lý do bản án sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo Nguyễn Như Q1 trình bày hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, bố mất sớm, các con còn nhỏ, vợ mới sinh, là lao động chính trong gia đình, bị cáo T1 là người đánh bị cáo trước sau đó bị cáo T1 gọi thêm nhiều người đến đánh bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 73/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/11/2019 đến ngày 02/12/2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q1 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Bị cáo Đặng Văn T1 có bố đẻ là liệt sỹ, bị cáo Nguyễn Như Q1 thuộc hộ cận nghèo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.[
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản sự việc, biên bản sao trích dữ liệu camera và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 22/11/2019 tại khu vực sân trước của khoa cấp cứu Bệnh viện sản nhi tỉnh Ninh Bình có địa chỉ tại đường H, phố T, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Do mâu thuẫn trong việc bắt khách đi xe taxi nên Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 có hành vi thách thức, chửi bới nhau sau đó dùng tay chân lao vào đánh nhau gây mất an ninh trật tự tại khu vực Bệnh viện. Sau khi đã được mọi người can ngăn do bực tức vì bị Q1 đánh, T1 tiếp tục gọi điện cho Đặng Tiến S là con trai thông báo mình bị đánh ở Bệnh viện sản nhi Ninh Bình. Lúc này S đang đi cùng xe ô tô với Đặng Thanh T2, Dương Văn V nên cũng biết việc T1 bị đánh đồng thời V gọi điện cho Dương Văn Q2 nói về việc Trung bị đánh nên Dương Văn Q2 đã rủ Vũ Mạnh Q3 đến khu vực trước khoa cấp cứu Bệnh viện sản nhi Ninh Bình. Tại đây Đặng Tiến S, Đặng Thanh T2, Dương Văn V, Vũ Mạnh Q3 dùng tay chân đấm, đá, đánh Nguyễn Như Q1 bị thương tích gây náo loạn tại Bệnh viện gây tâm lý hoang mang lo sợ cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, đội ngũ y bác sỹ làm mất an ninh trật tự tại Bệnh viện sản nhi Ninh Bình. Hành vi của các bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo xảy ra tại khu vực Bệnh viện sản nhi tỉnh Ninh Bình nơi có rất đông người qua lại, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T1 có bố đẻ ông Đặng Văn L là liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được bản án sơ thẩm xem xét áp dụng đầy đủ cho các bị cáo.Trong đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn T1 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hinh sự. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm bị cáo đãthành khẩn khai báo ra hành vi phạm tội của mình cũng như đồng phạm do vậy bản án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật cho nên không có căn cứ để áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo yêu cầu của bị cáo T1.Tuy nhiên xét vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đặng Văn T1 là người giữ vai trò đầu, chủ động tấn công bị cáo Q1 trước, sau đó gọi người đến đánh bị cáo Q1; bị cáo Nguyễn Như Q1 sau khi bị đánh đã được mọi người can ngăn nhưng sau đó không dừng hành vi của mình mà tiếp tục lao vào đánh nhau với bị cáo T1, do vậy bị cáo Q1 giữ vị trí thứ hai. Căn cứ vào vị trí vai trò cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; căn cứ vào yêu cầu đấu tranh đối với loại tội phạm này để xử lý nghiêm minh, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩmcác bị cáo đã xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương: Bị cáo Q1 hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mất sớm, vợ mới sinh con, thường xuyên đau ốm, là lao động chính trong gia đình; bị cáo T1 đã ly hôn vợ, phải chăm sóc mẹ già, sức khỏe yếu, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh neo đơn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng cho các bị cáo vì vậy cần sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình,giảm nhẹ một phần hình phạtcho các bị cáo đểcác bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận một phần và bị cáo T1 là con liệt sỹ, bị cáo Q1 gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2020/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 318; các điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/11/2019 đến ngày 02/12/2019.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q1 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án các bị cáo Đặng Văn T1 và Nguyễn Như Q1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 17/8/2020.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội (1 bản); - VKSND cấp cao tại Hà Nội (1 bản); - VKSND Tỉnh Ninh Bình (2 bản); - Phòng kiểm tra nghiệp vụ THA (1 bản); - TAND thành phố N (7 bản); - VKSND thành phố N (1 bản); - CA thành phố N (1 bản); - Chi cục THADS thành phố N (1 bản); - Phòng HS&NV Công an tỉnh (1 bản); - Bị cáo (2 bản); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1 bản); - Lưu hồ sơ (2 bản); - Lưu tòa (1 bản); - Lưu tổ hành chính tư pháp (1 bản); (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú). | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Tô Văn Thịnh |