vanban.org

Bản án 32/2020/DS-PT — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 17/02/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn V. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2019/DS – ST ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị P - Nguyễn Văn V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/DS - PT
Ngày: 17/02/2020
V/v “tranh chấp hụi và hợp đồng vay”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hương

Các Thẩm phán:

Ông Lê Minh Đạt

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Đặng Thị Phương Kha – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 399/2019/TLPT- DS ngày 31 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp hụi và hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2019/DS – ST ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2020/QĐ – PT ngày 03 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1958; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1952;

2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1955;

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lưu Hồng P1, sinh năm: 1959; (có mặt)

Địa chỉ: ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập:

1. Võ Thanh H, sinh năm 1974;

2. Võ Kim C, sinh năm 1972;

Cùng địa chỉ: ấp B, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre.

3. Nguyễn Thị D, sinh năm 1955;

4. Phan Thị Diễm C2, sinh năm 1970;

Cùng địa chỉ: ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre.

5. Nguyễn Văn T, sinh năm 1970;

Địa chỉ: ấp S, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị P trình bày:

Bà và bà T có quan hệ họ hàng với nhau. Trong các năm 2016 và 2017, bà có tham gia các dây hụi 300.000 đồng do bà Nguyễn Thị T làm chủ hụi, các dây hụi bà kêu hụi hốt nhưng bà T tuyên bố bể hụi, không giao tiền hụi gồm:

- Dây hụi tháng 300.000 đồng, mở hụi ngày 20 /12/2016 (âm lịch), một tháng khui 01 lần, tổng cộng có 27 phần, bà tham gia 06 phần, đến ngày 20/01/2019 (âm lịch) bà đã đóng được 23 tháng thì hốt với số tiền 41.400.000 đồng nhưng bà T không giao tiền.

- Dây hụi tháng 300.000 đồng, mở hụi ngày 15/01/2017 (âm lịch), một tháng khui hụi 01 lần, tổng cộng có 26 phần, bà tham gia 05 phần, đến ngày 15/10/2018 (âm lịch) bà đã đóng được 23 tháng thì hốt số tiền là 34.500.000 đồng nhưng bà T không giao tiền.

Tổng số tiền hụi bà hốt mà bà T không giao là 75.900.000 đồng.

Ngoài ra, bà T có nhiều lần vay tiền của bà. Tổng số tiền mà bà T vay của bà là 175.000.000 đồng. Do tin tưởng nên bà không kêu bà T làm giấy tờ ký nhận tiền.

Theo tập quán chơi hụi ở địa phương, việc tổ chức hụi dựa vào lòng tin với nhau. Khi muốn mở một dây hụi, bà T rủ bà tham gia, bà đồng ý thì tham gia. Mỗi bên đều có sổ tự theo dõi việc đóng tiền hụi, hốt hụi, sổ của ai nấy ghi. Khi đóng tiền hụi thì hụi viên, kể cả bà không kêu chủ hụi ký nhận nhưng khi hụi viên hốt hụi thì chủ hụi ghi giấy tính tiền để khi giao tiền hụi thì giao giấy cho hụi viên biết số tiền hốt hụi được nhận là bao nhiêu.

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn V là vợ chồng hợp pháp, việc bà chơi hụi của bà T và việc bà T vay tiền của bà thì ông V đều biết.

Vào ngày 14/5/2019, chồng bà T là ông V có trả cho bà được số tiền nợ vay là 45.000.000 đồng và 15.000.000 đồng tiền nợ hụi.

Như vậy, số tiền bà T, ông V còn nợ bà là 60.900.000 đồng tiền hụi và 130.000.000 đồng tiền vay, tổng cộng là 190.900.000 đồng, nhiều lần bà đòi nợ nhưng vợ chồng bà T không trả nên bà khởi kiện yêu cầu buộc ông V, bà T liên đới trả.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà xin rút yêu cầu đòi 130.000.000 đồng tiền nợ vay. Đối với tiền hụi thì thực tế bà đã đóng cho bà T tổng cộng là 51.165.000 đồng nhưng do bà hốt chót nên bà yêu cầu ông V, bà T có nghĩa vụ liên đới trả 60.900.000 đồng tiền hụi, không yêu cầu tính tiền lãi.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T cùng trình bày:

Bà T có tên thường gọi là “Hai B”. Bà T có làm chủ hụi. Cách bà T tổ chức hụi là dựa vào lòng tin với nhau, bà T rủ các hụi viên tham gia. Sau khi mở dây hụi thì bà T có sổ theo dõi ghi loại hụi, ngày khui, ngày mãn, danh sách hụi viên, thời gian hốt hụi, số tiền hụi mỗi hụi viên hốt. Phía hụi viên cũng có sổ tự theo dõi. Khi hụi viên đóng hụi cho bà T hay hốt hụi thì việc giao nhận tiền của các bên cũng không có làm giấy tờ hay ký nhận mà tự ghi trong sổ theo dõi của mình lập, sổ của bên nào bên đó ghi. Tuy nhiên, bà T đã làm lạc mất sổ ghi hụi nên không cung cấp cho Tòa án được.

Bà Nguyễn Thị P có tham gia một số dây hụi do bà T làm chủ hụi nhưng bà T không nhớ rõ là bà P tham bao nhiêu dây hụi, không nhớ loại hụi, số tiền, số phần hụi, ngày khui, ngày mãn, cũng không nhớ thời gian bà P hốt hụi, không nhớ số tiền bà P hốt được là bao nhiêu. Thời gian bà P tham gia hụi bắt đầu từ năm 2017 cho đến khoảng tháng 12 năm 2018 thì không còn tham gia do bà T không tiếp tục tổ chức hụi.

Danh sách hụi bà P kèm theo đơn khởi kiện không phải do bà T in phát cho bà P vì bà P và hụi viên tự có sổ riêng, từ trước đến nay bà T không có in danh sách hụi viên của bất kì dây hụi nào để phát cho hụi viên.

Bà T có tổ chức nhiều dây hụi khác nhau, do một số hụi viên đã hốt hụi nhưng không có khả năng đóng hụi chết cho bà T nên bà T phải bán đất để trả tiền cho các hụi viên, trong đó có bà P. Tháng 4/2019, hai bên chốt nợ và thống nhất bà T trả cho bà P 40.000.000 đồng là không còn nợ nữa. Bà T cũng đã thực hiện trả 40.000.000 đồng cho bà P xong nên không còn nợ tiền hụi của bà P.

Bà T không vay tiền của bà P. Việc bà P nói bà T vay 130.000.000 đồng là không đúng nên bà T không đồng ý trả.

Ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng hợp pháp, sống chung từ trước đến nay, hôn nhân còn tồn tại. Việc bà P và bà Nguyễn Thị T có chơi hụi với nhau hay không thì ông V hoàn toàn không rõ, không có tham gia. Ông V là thương binh và có đất vườn canh tác ổn định, do đó nguồn thu nhập sinh sống của ông V cơ bản ổn định, không có liên quan việc chơi hụi hay vay tiền của bà T nên việc bà P kiện ông V là không đúng.

Ông V, bà T đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của bà P.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà T thừa nhận bà P có tham gia các phần hụi do bà T làm chủ hụi và có đóng hụi cho bà T tổng cộng 51.165.000 đồng như bà P trình bày. Như vậy, trừ đi số tiền mà bà T đã trả cho bà P là 40.000.000 đồng thì bà T chỉ còn thiếu bà P 11.165.000 đồng tiền hụi, bà T đồng ý trả số tiền này cho bà P, ông V không liên quan tiền nợ của bà T nên không đồng ý có nghĩa vụ liên đới trả.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện G đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2019/DS – ST ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G đã tuyên:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T liên đới trả số tiền nợ vay là 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi là 60.900.000 đồng (Sáu mươi triệu chín trăm nghìn đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền nợ hụi là 36.165.000 đồng (Ba mươi sáu triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

3. Không chấp nhận phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi là 24.735.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/11/2019, bị đơn Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn V kháng cáo. Bà T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, bà cho rằng bà không còn nợ tiền bà P. Ông V kháng cáo không đồng ý trách nhiệm liên đới với bà T vì ông không tham gia chơi hụi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn không đồng ý, hai bên đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng; về nội dung: đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bà T, không chấp nhận kháng cáo của ông V, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà T và ông V liên đới trả cho bà P số tiền 15.900.000 đồng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn V liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 75.900.000 đồng. Bà T và ông V không đồng ý. Tại cấp sơ thẩm, bà T cho rằng bà chỉ có nhận của bà P số tiền đóng hụi là 51.165.000 đồng, bà đã trả cho bà P 40.000.000 đồng, hiện còn nợ 11.165.000 đồng; ông V không đồng ý nghĩa vụ liên đới với bà T. Bà P cho rằng bà T, ông V đã trả cho bà 45.000.000 đồng tiền vay và 15.000.000 đồng tiền hụi, số tiền vay 130.000.000 đồng thì bà đã rút yêu cầu khởi kiện tại tòa sơ thẩm, trừ số tiền 15.000.000 đồng bà T đã trả cho bà tiền hụi, bà yêu cầu bà T và ông V tiếp tục trả cho bà số tiền 60.900.000 đồng. Xét lời trình bày của các bên, việc chơi hụi giữa bà T và bà P là thực tế có xảy ra, bà P là hụi viên và bà T làm chủ hụi. Các bên do tin tưởng lẫn nhau nên khi giao hụi hoặc khi đóng tiền hụi đều không có biên nhận tiền, mỗi bên tự ghi sổ để tự theo dõi và không có ai ký xác nhận vào sổ của ai. Bà T cho rằng bà P đã đóng cho bà số tiền hụi sống là 51.165.000 đồng nhưng bà không còn giấy tờ lưu giữ nên không biết rõ bà P tham gia bao nhiêu dây hụi, đã đóng bao nhiêu phần và còn lại bao nhiêu phần. Bà P cũng thừa nhận bà đã đóng 51.165.000 đồng nhưng bà cho rằng bà đóng hụi là hụi sống, chơi hụi có lời nên số tiền thực tế nếu bà được hốt hụi, bao gồm cả tiền lời là 75.900.000 đồng. Lời trình bày này của bà P là có cơ sở chấp nhận và các nhân chứng cũng thừa nhận bà P còn hụi sống chưa hốt. Bà T không chứng minh được việc bà P đóng 51.165.000 đồng là đóng hụi chết hay hụi sống nên cần thiết chấp nhận lời trình bày của Phượng là bà P còn hụi sống để tính tiền nợ hụi cho phù hợp. Như vậy, bà T còn nợ tiền hụi của bà P là 75.900.000 đồng.

Mặt khác, cũng theo sự thừa nhận của bà P, bà cho rằng đã nhận của bà T, ông V số tiền 60.000.000 đồng, trong đó bao gồm tiền vay và tiền hụi. Tuy nhiên, bà P đã rút yêu cầu đối với phần tiền vay. Bà T trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bà cho rằng đã trả cho bà P 40.000.000 đồng tiền hụi nhưng tại đơn kháng cáo bà T trình bày đã trả 60.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà T cho rằng có sự nhầm lẫn tại cấp sơ thẩm, điều này là chưa đủ căn cứ để chấp nhận. Bà P không có chứng cứ chứng minh số tiền bà T và ông V trả cho bà là tiền hụi và tiền vay, cũng như không chứng minh được số tiền 60.000.000 đồng bao gồm bao nhiêu là tiền hụi và bao nhiêu là tiền vay. Nên căn cứ vào sự thừa nhận của bà T, chấp nhận số tiền hụi bà T và ông V đã trả cho bà P là 40.000.000 đồng. Từ đó, trừ vào tiền nợ của bà T thì bà T còn nợ bà P số tiền 35.900.000 đồng, kháng cáo của Trắng được chấp nhận một phần.

Ông V kháng cáo không đồng ý trách nhiệm liên đới, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông V cho rằng ông V có biết việc bà T chơi hụi, chỉ không trực tiếp tham gia. Ông V và bà T là vợ chồng hợp pháp, sống chung và làm ăn chung. Các nhân chứng cũng trình bày là ông V chở bà T đi gom hụi. Phần tiền 60.000.000 đồng trả cho bà P cũng là do ông V bán đất trả nợ với bà T. Từ những phân tích trên, việc ông V kháng cáo không đồng ý nghĩa vụ liên đới là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc ông V và bà T liên đới trả cho bà P số tiền nợ hụi còn lại là 35.900.000 đồng.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

Bà P, bà T, ông V đều là người cao tuổi nên được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn V.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2019/DS – ST ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện G.

Cụ thể tuyên:

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2016 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T liên đới trả số tiền nợ vay là 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.

Buộc ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền nợ hụi là 35.900.000 đồng (ba mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).

3. Không chấp nhận phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn V được miễn.

4. Án phí dân sự phúc thẩm:

- Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn V được miễn.

- Hoàn tạm ứng án phí đã nộp cho bà T số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007427 ngày 07/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

- Hoàn tạm ứng án phí đã nộp cho ông V số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007426 ngày 07/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ