vanban.org

Bản án 32/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 16/07/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa một phần bản án sơ thẩm

Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của bà Trần Thị T1 về việc xác định diện tích đất 0,8m2 giáp ngõ đi 369 đường H, phường B, thành phố N được giới hạn bởi các điểm FHIK (theo sơ đồ hiện trạng èm theo bản án) thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T1. Buộc bà Vũ Thị T2 có trách nhiệm tháo dỡ cổng x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Sửa một phần bản án sơ thẩm
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Luật Đất đai; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/DS-PT
Ngày 16-7-2020
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHA DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng t ử ph c thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hà Nam

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tiến Dũng

Ông Lại Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Ông B i Ngọc Qu nh - Thư ý T a án nhân dânt nh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân t nh Nam Định x t xử phúc th m c ng hai vụ án dân sự phúc th m thụ lý số 17/2020/TLPT-DS ngày 04 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ th m số 31/2019/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2019 của T a án nhân dânthành phố Nam Định, t nh Nam Định bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử phúc th m số 85/2020/QĐXXPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2020 gi a các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số nhà 400 đường H, phường Q, thành phố N, t nh N. (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1953; nơi cư trú: Số nhà 30 phố H, phường phường Q, thành phố N, t nh N; người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (Văn bản ủy quyền ngày 23-5-2019).

2. Bà Vũ Thị T3; sinh năm 1965; nơi cư trú: Số 263 đường T, phường T, Quận T, thành phố H; người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (Văn bản ủy quyền ngày 23-5-2019).

3. Ông Vũ Đình Đ, sinh năm 1963; nơi cư trú: A9/50B ấp 1, xã B, huyện B, thành phố H; người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (Văn bản ủy quyền ngày 17-6-2019).

4. Ông Vũ Thiện K, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, t nh K (Văn bản nhường tài sản T4 ế cho bà Vũ Thị T2 ngày 23-5-2017)

5. Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1949; nơi cư trú: Số nhà 90 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (vợ ng Vũ Đình P); người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (Văn bản ủy quyền ngày 07-10-2019).

6. Chị Vũ Thị H, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ 6 Ấp A, xã T, huyện H, t nh B (con ng Vũ Đình P); người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (Văn bản ủy quyền ngày 20-8-2019).

7. Anh Vũ Đình H1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số 39/14 đường T, phường B, thành phố N, t nh N (con ng Vũ Đình P); người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (Văn bản ủy quyền ngày 20-8-2019).

8. Anh Vũ Đình H2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số nhà 90 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (con ng Vũ Đình P); người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T2 sinh năm 1951; nơi cư trú: Số nhà 100 phố M, phường N, thành phố N, t nh N (Văn bản ủy quyền ngày 20-8-2019).

9. Ông Mai Hiển D, sinh năm 1930; nơi cư trú: Số nhà 6 ngõ 398 đường T, phường V, thành phố N, t nh N. (Vắng mặt).

10. Ông Trịnh Quang V và bà Mai Thị L1; nơi cư trú: Số nhà 377 đường H, phường T, thành phố N, t nh N. (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Đặng Đình C, sinh năm 1945; nơi cư trú: Số nhà 51 phố L, phường B, thành phố N, t nh N. (Vắng mặt).

2. Ông Trần Đăng H3, sinh năm 1946; nơi cư trú: Số nhà 2/253 đường H, phường L, thành phố N, t nh N. (Vắng mặt).

3. Ông Trần H4 K2, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số nhà 367 đường H, phường B, thành phố N, t nh N. (Có mặt).

4. Ông Nguyễn Minh T4, sinh năm 1944; nơi cư trú: Số nhà 398 đường H, phường Q, thành phố N, t nh N. (Vắng mặt).

5. Ông Trần Duy D2, sinh năm 1959; nơi cư trú: Ngõ 68 phố L, phường B, thành phố N, t nh N. (Có mặt).

6. Bà Lương Thị Đ2 (tức H1); nơi cư trú: phố L, phường B, thành phố N, t nh N. (Có mặt).

- Người kháng cáo: Bị đơn: Bà Vũ Thị T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn hởi iện và quá trình tố tụng tại T a án nguyên đơn là bà Trần Thị T1 trình bày:

Bố mẹ bà là cụ Trần Văn T4 và cụ Trần Thị C có căn nhà và đất tại địa ch 41 phố H cũ, nay là 369 H, phường B, thành phố N, t nh N. Bố bà đã chết năm 1992, mẹ bà đã chết năm 2016. Bà là con nu i duy nhất và đã được hưởng thừa ế của bố mẹ bà theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa ế ngày 07-4-2004, được UBND phường B xác nhận. Thửa đất đã được Ủy ban hành chính thành phố N cấp giấy ph p sử dụng tạm thời số 0-76/SD ngày 22-4-1976, diện tích 57,8m2, hình thể thửa đất hình ch nhật, chiều rộng mặt phố H là 6,8m, chiều dài thửa đất là 8,5m thuộc thửa 35P thuộc tờ bản đồ giải thửa số 28. Ngõ giáp thửa đất của bố mẹ bà là 1,2m. Quá trình sử dụng đất bố mẹ bà đã xây dựng nhà, bếp, c ng trình phụ và hiện nay c ng trình vẫn gi nguyên hiện trạng. Trước đây, phía cuối thửa đất nhà bà giáp ngõ đi có một cây xoan, hi bố mẹ bà xây dựng bếp h ng muốn chặt cây xoan nên đã xây l i vào trong. Nay cây xoan đã chặt đi nên diện tích đó để lưu h ng, nhà bà T2 xây dựng cổng vào diện tích này.

Quá trình hình thành và sử dụng ngõ đi số 369 đường H, bà Trần Thị T1 trình bày như sau: Bố mẹ bà mua đất của cụ Trịnh Thị H, phía đằng sau là nhà cụ A nhưng thời gian đó cụ A đi sơ tán h ng ở đó nên bà cũng h ng biết cụ A đi lối nào. Sau đó, ng Trịnh Quang V đã có nhà mặt đường H mua đất của cụ A thì nhà ông V đi lối giáp thửa đất của nhà ng V. Khi ông V bán thửa đất mua của cụ A cho nhà ông Mai Hiển D thì ông D vẫn đi ngõ đi giáp thửa đất của nhà ng V mặt đường H. Đến hi ng V bán căn nhà mặt đường H cho gia đình ng Trần Đăng H4 thì nhà ông D mới đi sang ngõ đi c ng với nhà bà là ngõ 369 H hiện nay. Ngõ 369 đường H hình thành từ tường nhà bà và tường bao thửa đất địa ch 68 L. Từ h ng nhà bà có mở một lối đi rộng hoảng 1m ra ngõ 369 đường H, cánh cổng bằng miếng t n vẫn c n nguyên hiện trạng. Thời gian trước hi nhà bà chưa có máy nước thì bà vẫn thường gánh nước từ nơi c ng cộng vào hu vệ sinh và bếp bằng lối cổng này. Sau này bố bà có xin o được máy nước thì nhà bà có cho nhà bà T2 và các hộ dân xung quanh đi vào lấy nước bằng ngõ đi này. Khi xây dựng nhà và bếp, bố mẹ bà đã đặt đường thoát nước ở gi a bên dưới nền ngõ, có hố ga gi a ngõ, đường cấp nước bằng ống ẽm chìm dưới ngõ nhưng hiện nay gia đình bà h ng d ng đường cấp nước này n a. Gia đình bà T2 hi sử dụng ngõ đi này cũng đặt đường cống thoát nước chạy dọc ngõ, sau này cũng lắp đường cấp nước chạy dọc ngõ. Diện tích ngõ đi từ trước đến nay không thay đổi gì. Trước hi hai gia đình có sử dụng một cổng chung bằng tre giáp đường H. Sau đó, gia đình bà T2 xây dựng cổng sắt phía bên trong thì hai bên xảy ra tranh chấp.

Theo ết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 29-10-2019, biên bản xem x t th m định tại chỗ ngày 11-10-2019 của Văn ph ng đăng ý đất đai thành phố N thì chiều rộng thửa đất tiếp giáp đường H là 6,97m, phần móng của căn nhà là 0,06m, phần mặt ngõ là 1,23m. Chiều rộng tiếp giáp thửa đất số 134 tờ bản đồ số 4 gia đình bà đã xây tường bao và bếp từ trước ích thước là 6,55m, chiều rộng ngõ tại cuối thửa đất là 1,33m, bà xác định lại mốc giới chiều rộng này để lại ngõ rộng 1,2m do hi bố mẹ bà xây dựng bếp đã l i vào. Mặc d chiều rộng xác định theo mốc giới bà đã cắm l i ra 0,13m ích thước mặt này là 6,68m thiếu so với giấy ph p sử dụng đất tạm thời bà nhưng h ng có ý iến đề nghị gì. Vì theo giấy ph p sử dụng tạm thời số 0-76/SD thửa 35P thuộc tờ bản đồ giải thửa số 28 ngày 22-4-1976 do Ủy ban hành chính thành phố N cấp cho bố mẹ bà xác định ngõ 41 H này là 369 H rộng 1,2m nên bà xác Đ điểm phía trong ngõ tiếp giáp thửa đất của gia đình bà T2 ngõ cũng rộng 1,2m, điểm phía ngoài ngõ đo hiện trạng là 1,23m và 0,06m móng tường nhà bà là 1,29m là rộng hơn so với giấy ph p sử dụng tạm thời.

Mặt chiều dài thửa đất tiếp giáp thửa đất số 1 tờ bản đồ số 5 đứng tên ng Trần Hồng K2 đo thực trạng là 8,21m, hai hộ liền ề h ng có tranh chấp gì. Kích thước mặt này ngắn hơn so với giấy ph p sử dụng tạm thời số 0-76/SD thửa 35P thuộc tờ bản đồ giải thửa số 28 ngày 22-4-1976 do Ủy ban hành chính thành phố N cấp do bố mẹ bà xây dựng để lại lưu h ng hoảng 30cm cuối thửa đất. Quá trình sử dụng bố mẹ bà đã cho cụ D chủ nhà trước hi chuyển nhượng cho cụ N. Khi cụ N về sử dụng thửa đất này đã đóng 3 cọc bê t ng ở sân nhà cụ N và giáp trụ tường bao và tường bếp nhà bà nên mốc giới này bà yêu cầu gi nguyên và xác định chiều dài thực tế thửa đất này như hiện trạng là 8,21m.

Mặt chiều dài thửa đất tiếp giáp ngõ 369 đường H, phường B, thành phố N bà xác định mốc giới như sau: Đoạn 1 là điểm từ tường nhà bà đã xây dựng giáp đường H chạy theo bức tường nhà chính đến hết bức tường nhà chính ( h ng lấy móng), đoạn 2 từ điểm cuối bức tường nhà chính nối với điểm giáp thửa đất nhà bà T2 bà đã cắm mốc giới l i ra so với hiện trạng là 0,13m. Trường hợp diện tích thửa đất có bị thiếu so với giấy ph p sử dụng đất thì bà cũng chấp nhận.

Hiện nay nhà bà T2 đã xây dựng cổng và xây trụ cổng ra phía ngoài ngõ đi chung và xây lấn sang diện tích thửa đất của gia đình bà để lưu h ng. Vì vậy, yêu cầu gia đình bà T2 dỡ bỏ trụ cổng xây vào đúng mốc giới thửa đất nhà bà T2 trả lại phần diện tích đất thiếu của thửa đất nhà bà. Đề nghị T a án xác định diện tích đất của thửa đất bố mẹ bà thừa ế lại cho bà theo mốc giới bà đã xác định ở trên. Phần diện tích ngõ đi tiếp giáp thửa đất nhà bà theo mốc giới ngõ 369 đường H là ngõ đi chung của hai thửa đất.

Tại các lời hai và quá trình tố tụng tại T a án, bị đơn là bà Vũ Thị T2 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị T3, ng Vũ Đình Đ, ng Vũ Thiện K, bà Trần Thị Đ, chị Vũ Thị H, anh Vũ Đình H1, anh Vũ Đình H2) trình bày: Năm 1979 bố bà là cụ Vũ Đình Mưu và mẹ bà là cụ Trần Thị N đã mua của ng Mai Văn D một căn nhà 3 gian và bếp trên diện tích đất 54m2 và có ngõ đi ra đường H, chiều ngang ngõ là 1,35m, chiều dài 8,02m. Tổng diện tích là 65,07m2. Khi mua nhà về đây cụ T4 đã xây dựng nhà và bếp, giáp mặt ngõ 369 H có hoảng trống 1m được rào ín bằng tấm t n, hi đó bố mẹ bà có hỏi cụ T4 sao chỗ này h ng xây mà để miếng t n thì cụ T4 trả lời “ hi cụ xây nhà chỗ này có cây xoan chặt đi thì tiếc nên hi làm nhà và bếp cụ đã để chừa ra, sau này chặt cây xoan đi thì chỗ đó trống”. Trước đây nhà ông D đi ngõ đi giáp thửa đất nhà ng K, nhà cụ T4 giáp hu vệ sinh của hu nhà quay ra đường L nên rất b n, cụ T4 và ông D đã thỏa thuận với nhau đổi ngõ. Sau đó, gia đình cụ T4 đi nhờ ngõ nhà bà và đường cống trước đây cũng chưa dỡ bỏ. Năm 2004 theo ết quả đo đạc của thành phố thì diện tích thửa đất của gia đình bà là 64m2, các bên đã ý giáp ranh, mặt giáp thửa đất nhà cụ T4 hai bên vẫn gi hiện trạng cũ nhưng bà T1 h ng nhất trí mốc giới. Cổng nhà bà hiện nay đặt ở vị trí ngang điểm đầu bức tường bếp nhà bà T1. Từ trước đến nay nhà bà vẫn đóng thuế đất 64m2.

Bố bà đã chết năm 1998, mẹ bà chết năm 2012. Gia đình bà có 5 anh chị em là ng Vũ Đình Đ, ng Vũ Thiện K, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị T3, ng Vũ Đình P (đã chết năm 2013) có vợ là bà Trần Thị Đ, con là chị Vũ Thị H, anh Vũ Đình H1, anh Vũ Đình H2. Căn nhà trên đất của bố mẹ bà là di sản thừa ế chưa chia. Tất cả nh ng người thuộc hàng thừa ế thứ nhất của cụ M và cụ N ủy quyền cho bà tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Hiện nay bà đang quản lý căn nhà này, quan điểm của bà h ng chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn. Đề nghị T a án xác định quyền sử dụng của hai gia đình như hiện trạng sử dụng đất. Phần đất của bà T1 xác định mốc giới như sau: Mặt cuối thửa đất của nhà bà T1 tiếp giáp thửa đất nhà bà mà nhà bà T1 đã xây tường bao và hai nhà đã xác định mốc giới từ trước bằng việc nhà bà đóng ba cọc bê t ng xác định mốc giới như T a án đã xem x t th m định tại chỗ, mốc giới này h ng có tranh chấp gì. Mặt tiếp giáp ngõ 369 H bà T2 xác định điểm đầu phía ngoài ngõ giáp đường H mặt ngõ rộng 1,23m cộng chân móng nhà bà T1 là 0,06m là ích thước rộng ngõ, mốc giới đất nhà bà T1 tính từ bức tường nhà chính chạy hết bức tường nhà bà T1, chạy theo tường nhà vệ sinh của nhà bà T1 đã xây là điểm thứ hai, điểm thứ ba nối từ cuối bức tường nhà vệ sinh đến đầu bức tường bếp nhà bà T1 chạy hết bức tường bếp nhà bà T1. Đó là ranh giới thửa đất nhà bà T1 đã xây dựng c ng trình. Chiều rộng cuối ngõ là 1,33m theo ết quả đo đạc của chi nhánh Văn ph ng đăng ý đất đai thành phố N. Kết quả đo đạc ngày 29-10-2019 của Chi nhánh văn ph ng đăng ý đất đai thành phố N bà không có ý iến gì. Phần diện tích ngõ theo mốc giới trên là quyền sử dụng của thửa đất nhà bà và đề nghị được cấp giấy chứng nhận phần diện tích này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trịnh Quang V và bà Mai Thị L1 trình bày: Năm 1960 ng bà mua đất và xây dựng nhà tại địa ch 41 phố H nay là 367 phố H diện tích 80m2. Thửa đất h ng giáp ngõ đi nào, một bên giáp nhà cụ N1, một bên giáp nhà cụ L. Năm 1965 ng bà mua thêm thửa đất phía trong của cụ A và nhập T2 với thửa đất cũ. Thửa đất này có lối đi ra đường Hgiáp nhà cụ L. Giấy tờ mua chuyển nhượng viết tay có hối trưởng và tổ trưởng xác nhận. Năm 1966 - 1967 ng bà chuyển nhượng thửa đất mua cụ A cho ông Mai Hiển D. Mảnh đất ng mua thế nào thì nhượng lại thế ấy. Năm 1968 ng bà chuyển nhượng thửa đất mặt đường H cho gia đình cụ L và chuyển đến phố H1 sinh sống.

2. Ông Mai Hiển D trình bày: Năm 1967 ng mua thửa đất tại địa ch 41 đường H, phường B, thành phố N, ông h ng nhớ tên chủ nhà do ng V mua hộ. Khi mua bán người bán ch cho ng diện tích đất đã cắm 4 cọc tre ở bốn góc và ngõ đi từ trong ra ngoài đường, bề rộng ngõ hoảng 1,5m. Hai bên chuyển nhượng viết tay, h ng đo cụ thể thửa đất, ch mời tổ trưởng và hối trưởng chứng iến. Thửa đất bên ngoài giáp đường H của cụ Trần Văn T4 cũng mua của chủ hác. Năm 1968 cụ T4 xây dựng nhà, năm 1969 ng xây dựng nhà 3 gian lợp ngói, nhà cụ T4 là nhà mặt đường, h ng đi ngõ đi 369 phố H, hai bên h ng xảy ra tranh chấp gì. Gi a thửa đất của nhà ng V và nhà ông N có một lối đi hoảng 0,7m. Năm 1979 ng bán căn nhà cho cụ Vũ Đình M và cụ Trần Thị N, hi chuyển nhượng viết tay, h ng đo đạc cụ thể hiện trạng sử dụng đất mà ch mốc giới hiện trạng thửa đất, ngõ đi riêng. Năm 2017 vợ ng là bà Trịnh Thị N1 đã chết, các con đều lập gia đình ở nhiều nơi hác nhau, các con ng cũng h ng biết gì về việc mua bán nhà đất tại địa ch ngõ 369 phố H của bố mẹ, ng từ chối cung cấp địa ch của các con.

Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Hồng K1 trình bày: Thửa đất tại địa ch hiện nay là số nhà 367 đường đường H, phường B, thành phố N là của bố mẹ ng (cụ L1 và cụ L2) mua của ng V năm 1976, có giấy tờ mua bán xác nhận của hu trưởng, bố mẹ ng và ông H4 (anh trai ng) c ng sống ở đây. Năm 1982 bố mẹ ng chia đ i thửa đất cho ông và ông H4 mỗi người một nửa và sang tên ng và ng H4. Hai anh em ông xây dựng nhà hai tầng bê t ng trên đất. Thửa đất đứng tên ng phía Bắc giáp thửa đất của cụ T4, gi a hai thửa đất h ng có ngõ đi nào mà hai bên giáp tường nhau. Khi ng xây dựng nhà ng h ng đào móng sâu vì sợ hỏng tường nhà cụ T4. Gi a thửa đất của ng H4 (phía Nam) và nhà cụ N ch có một lối đi nhỏ hoảng 0,7m và nay h ng c n ngõ đi nào n a. Tường nhà ng H4 và nhà cụ N cũ (nay của bà T) liền ề nhau. Hiện nay ng H4 h ng sống ở đây n a và đã chuyển nhượng cho người hác. Khi gia đình ng về đây sống thì gia đình cụ T4 và cụ C đã sống ở đây, bà T1 c n nhỏ cũng sống chung c ng bố mẹ. Khi đó nhà cụ T4 đã xây dựng nhà và đã có ngõ đi một bên giáp tường nhà cụ T4 và một bên giáp tường thửa đất quay nhà đường L. Thửa đất giáp đường H là nhà cụ T4, thửa đất bên trong là nhà ông D. Ông thấy hai gia đình đi chung ngõ đi này. Nhà cụ T4 mở một cái cổng từ cuối thửa đất nhà cụ T4 (phía đó là hu phụ và bếp) ra lối ngõ đi 369 H và thường xuyên sử dụng lối đi này vào hu phụ. Đường cống thoát nước của nhà cụ T4 nằm gi a ngõ chạy thẳng ra đường. Nhà cụ N đặt đường cống sát bức tường phía bên đối diện bức tường nhà của cụ T4, cống xây gạch. Ông là người trực tiếp làm cống thoát nước cho cụ T4 và cho cụ N. Hiện nay cống và nắp hố ga của hai nhà vẫn c n hiện trạng h ng có gì thay đổi. Phía ngoài ngõ 369 H hẹp hơn phía trong ngõ nguyên do cụ T4 l i vào để mở một cái cổng đi ra ngõ và sử dụng ngõ này để sử dụng phần c ng trình phụ. Hiện trạng cổng vẫn c n nguyên. Phần đất cụ T4 lùi vào để trống nên cụ T4 đã để nhà cụ N mở ngõ để đi cho rộng. Kể từ hi cụ T4 cụ C mất hai bên mới xảy ra tranh chấp. Quan điểm của ng ngõ đi là ngõ chung của hai nhà, h ng của riêng ai.

2. Anh T Văn C là chồng chị Phạm Thi V nhất trí với lời trình bày của chị V, ông Nguyễn Đăng H4 trình bày: Năm 1976 bố mẹ ng mua căn nhà cấp 4 mái ngói của ng V và ng về đây sống c ng. Tứ cạnh thửa đất giáp đường H, giáp nhà cụ T4, giáp thửa đất quay ra đường L, giáp nhà cụ N. Gi a thửa đất nhà ng và nhà cụ T4 h ng có ngõ đi chung, gi a thửa đất nhà ng và nhà cụ N có ngõ đi rộng 0,7m. Hiện nay thửa đất này chia làm hai thửa một thửa cấp giấy chứng nhận cho ng, một thửa cấp giấy chứng nhận cho ng K - em trai ng. Khi gia đình ng về sinh sống tại thửa đất này thì nhà cụ T4 đã sống ở đây, đã xây dựng nhà và có ngõ đi giáp tường nhà, nhà cụ T4 thường sử dụng ngõ đi này từ ngoài đường vào hu phụ, có cống thoát nước chạy dọc ngõ. Thửa đất phía trong là của ng D đi chung với ngõ gi a nhà cụ N và nhà ông. Sau khi ông D bán thửa đất đó cho nhà cụ N vẫn sử dụng ngõ đi này. Sau đó gia đình ng xây dựng nhà vít ngõ đi giáp nhà cụ N nên nhà cụ N chuyển sang đi ngõ 369 đường H. Quan điểm của ng ngõ 369 đường H là ngõ đi chung của hai thửa đất phía trong và phía ngoài địa ch 369 đường H.

3. Ông Trần Th y D và bà Lương Thị Đ (tức H1) trình bày: Ông là con trai cụ X và cụ C1, ng c ng bố mẹ từ hi sinh ra ở thửa đất địa ch 68 L. Nhà đất trước đây là nhà bảo quản, nay đã thanh lý và các con cụ X (ông T5, bà N, ông D, bà H1) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từng thửa. Thửa đất 87 tờ bản đồ số 4 giáp ngõ 369 đường H là phần c ng trình phụ d ng chung của các thửa đất địa ch 68 L. Trước đây gia đình nhà ng có mở lối đi ra ngõ 369 đường H để tiện cho sinh hoạt nhất là hi làm vệ sinh thay th ng, sau đó vì an ninh nên gia đình ng xây vít lối đi này. Bức tường giáp ngõ đi là do bố ng xây, h ng có móng dưới ngõ. Gia đình h ng có liên quan tranh chấp gì về ngõ 369 đường H. Ông biết từ xưa gia đình cụ N và gia đình cụ T4 c ng đi chung lối đi này, nhà cụ T4 mở lối đi từ c ng trình phụ ra ngõ đi chung để lấy nước sinh hoạt. Ông xác Đ ngõ 369 đường H là ngõ đi chung của hai thửa đất trong và ngoài đường H. Ông biết trước ia vị trí giáp tường bếp nhà cụ T4 có một cây xoan ở ngõ 369 đường H, nay chặt cây xoan đi thì phần đó thuộc quyền sử dụng của thửa đất nhà bà T1.

4. Ông Nguyễn Minh T6 trình bày: Ông sinh sống tại địa ch 398 đường H từ năm 1961-1962. Thửa đất tại dịa ch 369 đường H giáp đường là nhà cụ T4, giáp nhà cụ T4 là ngõ đi, phía bên trong là nhà ng D. Giáp nhà cụ T4 là nhà ông V và tiếp theo là nhà cụ N. Gi a nhà ng V và nhà cụ N là một ngõ đi rộng 0,7m, nhà ông V và nhà ông D sử dụng. Ông c n nhớ vợ ng D trần chăn b ng nên đi lối đi này rất hó hăn. Sau này nhà ng V bán thửa đất cho bố mẹ ng H4 và bán cả ngõ đi nên nhà ng D sử dụng ngõ đi giáp nhà cụ T4 là ngõ 369 đường H. Nhà cụ T4 có mở lối đi từ hu phụ ra ngõ 369 đường H cho tiện sinh hoạt, đường cống thoát nước cũng chạy dọc ngõ. Khi ng D chuyển nhượng thửa đất cho cụ N như thế nào thì ng h ng biết, sau này nhà cụ N làm cổng phía trong ngõ c n phía ngoài vẫn có cổng chung của hai nhà.

5. Ông Đặng Đình C trình bày: Ông về tổ dân phố này sống từ năm 1969 và sau đó gi chức bí thư chi bộ tổ dân phố. Khi đó hai gia đình tại địa ch 369 đường H, phía trong và phía ngoài đường có xảy ra tranh chấp đất nên chính quyền địa phương h a giải hai gia đình. Ông h ng biết về giấy tờ hai thửa đất như thế nào, ngõ đi chung hay riêng mà ch h a giải để hai bên nên phương án dựng cổng bằng tre ở phía ngoài đường để đảm bảo an ninh. Quan điểm của ng thời điểm đó là nhà cụ T4 đã có mặt đường nên ngõ để cho nhà cụ N đi.

Tại bản án dân sự sơ th m 31/2019/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dânthành phố Nam Định, t nh Nam Định đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Trần Thị T1 về việc xác định diện tích đất 0,8m2 giáp ngõ đi 369 đường H, phường B, thành phố N được giới hạn bởi các điểm FHIK (theo sơ đồ hiện trạng èm theo bản án) thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T1 và ngõ 369 đường H, phường B, thành phố N diện tích 10,1m2 là ngõ đi chung vào thửa đất số 321 tờ bản đồ số 4, phường B, thành phố N thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị T1 và thửa đất số 134 tờ bản đồ số 4, phường B, thành phố N thuộc quyền sử dụng đất của bà Vũ Thị T2, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị T3, ng Vũ Đình Đ, ng Vũ Thiện K, bà Trần Thị Đ, chị Vũ Thị H, anh Vũ Đình H1, anh Vũ Đình H2.

2. Xác định mốc giới thửa đất số 321 tờ bản đồ số 4 phường B, thành phố N thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T1 như sau: Mặt giáp đường H có kích thước 6,97m. Mặt giáp thửa đất số 1 tờ bản đồ số 5 có ích thước 8,21m. Mặt giáp thửa đất 134 tờ bản đồ số 4 có ích trước 6,68m. Mặt giáp ngõ 369 đường H được giới hạn bởi các điểm ABC (theo sơ đồ hiện trạng èm theo bản án) ích thước 8,11m, diện tích thửa đất 321 tờ bản đồ số 4 phường B, thành phố N là 56,5m2.

3. Xác định mốc giới ngõ 369 đường H, phường B, thành phố N được giới hạn bởi các điểm ABCDE (theo sơ đồ hiện trạng èm theo bản án) diện tích 10,1m2.

4. Buộc bà Vũ Thị T2 có trách nhiệm tháo dỡ cổng xây dựng ở vị trí giáp tường bếp nhà bà Trần Thị T1 và trên ngõ đi chung của hai thửa đất.

Ngoài ra, án sơ th m c n tuyên án phí và quyền háng cáo của các đương sự.

Ngày 02-12-2019 bà Vũ Thị T2 háng cáo toàn bộ bản án sơ th m. Yêu cầu cấp phúc th m sửa bản án sơ th m theo hướng bác toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn.

Tại phiên t a, bà T2 vẫn gi nguyên yêu cầu háng cáo đề nghị Hội đồng x t xử sửa bản án sơ th m h ng chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà T1.

Bà T1 gi nguyên đơn hởi iện và đề nghị Hội đồng x t xử h ng chấp nhận háng cáo của bà T2 và gi nguyên bản án sơ th m.

Kiểm sát viên - Viện iểm sát t nh Nam Định phát biểu ý iến: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc th m, Th m phán và Hội đồng x t xử đã tuân theo các quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.

Về đường lối giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu thu thập được lưu hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên t a. Đề nghị Hội đồng x t xử, căn cứ hoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sửa bản án sơ th m, bác toàn bộ yêu cầu hởi iện của bà Trần Thị T1 là nguyên đơn trong vụ án.

Án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN Đ CỦA TOÀ ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài L1, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem x t tại phiên toà, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng x t xử x t háng cáo của bà Vũ Thị T2 thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn háng cáo của bà Vũ Thị T2 được làm trong thời hạn luật định, do vậy được Hội đồng x t xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] X t nội dung háng cáo của bà Vũ Thị T2, về tranh chấp quyền sử dụng ngõ đi số 369 đường H. Hội đồng x t xử nhận thấy:

Thửa đất số 321 tờ bản đồ số 4 Bản đồ địa chính phường B, thành phố N lập năm 2005, có nguồn gốc của cụ Trần Văn T4 là bố của bà T1 đã được Ủy ban hành chính thành phố N cấp Giấy ph p sử dụng tạm thời số 1-76/SD ngày 22 tháng 4 năm 1976, với diện tích 57,8m2 có số thửa 35P thuộc tờ Bản đồ giải thửa thành phố N số 28.

Thửa đất số 134 tờ bản đồ số 4 Bản đồ địa chính phường B, thành phố N lập năm 2005, (Trước đây là thửa 35 thuộc tờ Bản đồ giải thửa thành phố n số 28), có nguồn gốc của ng Trịnh Quang V mua của chủ trước. Sau đó ng V chuyển nhượng cho ng Mai Hiển D vào năm 1967, đến năm 1979 ng D chuyển nhượng cho vợ chông cụ Vũ Đình M và cụ Trần Thị N là bố mẹ đẻ của bà T2. Khi mua bán chuyển nhượng các bên có giấy viết tay, h ng đo đạc thửa đất.

Về mặt pháp lý: Căn cứ vào các tài L1, chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy ngõ đi 369 đường H hình thành từ trước; cụ thể theo Giấy ph p sử dụng tạm thời số 1-76/SD ngày 22 tháng 4 năm 1976 mà Ủy ban hành chính thành phố N cấp cho ng Trần Văn T4 và Trích lục Bản đồ giải thửa èm theo giấy ph p này thể hiện. Thửa đất số 35P (Tức 321 hiện nay) nằm ở phía trước giáp đường H; c n thửa đất số 35 (Tức 134 hiện nay) nằm ở phía sau, lối đi vào thửa đất số 35 chính là ngõ 369 hiện nay nằm về phía Tây Bắc của hai thửa đất. Theo bản đồ địa chính phường Blập năm 2005 và Bản đồ iểm ê phường B lập năm 2010, cũng như sổ Mục ê thì thửa đất của gia đình bà T1 có số thửa 321 thuộc tờ Bản đồ số 4 với diện tích là 55m2 nằm giáp đường H; c n thửa đất của gia đình bà T2 có số 134 thuộc tờ Bản đồ số 4 với diện tích là 64,5m2 nằm ở phía sau, lối đi vào thửa đất của gia đình bà T2 vẫn là ngõ 369 hiện nay nằm về phía Tây Bắc của hai thửa đất. Theo ết quả đo đạc do cấp sơ th m tiến hành ngày 29/10/2019 thì diện tích đất hiện trạng của gia đình bà T1 đang sử dụng là 57,1m2, h ng bao gồm diện tích ngõ đi là 9,5m2; còn diện tích đất hiện trạng của gia đình bà T2 đang sử dụng là 52,8m2, h ng bao gồm diện tích ngõ đi là 10,9m2(BL346). Như vậy T2 qua ết quả đo đạc cho thấy, h ng tính diện tích ngõ đi thì diện tích đất của gia đình bà T1 tương đối ph hợp với diện tích đất được cấp ph p sử dụng tạm thời vào năm 1976 và diện tích được thể hiện trên Bản đồ địa chính của phường B; c n diện tích đất của gia đình bà T2 c n thiếu trên 10m2 so với diện tích được thể hiện trên Bản đồ địa chính và sổ Mục ê của phường B.

Về mặt hiên trạng: Từ trước đến nay gia đình bà T2 ch có một lối đi duy nhất vào thửa đất nhà bà đó chính là ngõ 369. Đối với gia đình bà T1, do thửa đất của gia đình nhà bà nằm tiếp giáp với đường H, cho nên gia đình bà T1 đi trực tiếp ra đường H; tuy nhiên hi bố, mẹ bà T1 c n sống, do nhưu cầu sử dụng đường nước sinh hoạt (Nước máy) đã lắp đặt chạy dọc dưới nền ngõ về phía sau nhà vào hu vệ sinh, bếp, ngoài ra bố mẹ bà T1 c n cho một số gia đình lân cận sử dụng chung đường nước máy này, cho nên bố mẹ bà T1 có mở một lối đi phụ ở phía sau nhà để đi ra ngõ 369 và xây hố ga ích thước 45 x 30cm c ng với cống thoát nước chạy dọc từ phía trong ra phía ngoài đường H sát với bức tường phía Tây Bắc nhà bà T1; hiện tại gia đình bà T1 đã lắp đặt đường nước sinh hoạt (Nước máy) từ trục chính phía trước giáp đường H vào thẳng trong nhà, do vậy gia đình bà h ng sử dụng đường nước sinh hoạt trước đây n a.

Từ nhận định trên đây; trên cở sở các căn cứ về mặt pháp lý cũng như hiện trạng của việc sử dụng ngõ đi 369. Hội đồng x t xử x t thấy cần chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà T2, xác định ngõ đi 369 thuộc quyền sử dụng riêng của gia đình bà Vũ Thị T2 là hoàn toàn ph hợp.

[3] X t nội dung háng cáo của bà Vũ Thị T2, về mốc giới và quyền sử dụng đất: Căn cứ vào các tài L1, chứng cứ có trong hồ sơ và quá trình xem x t, th m định, đo đạc đã được tiến hành ở cấp sơ th m. Hội đồng x t xử x t thấy, việc cấp sơ th m xác định gia đình bà T2 trong quá trình xây dựng trụ cổng và lắp cổng sắt, đã xây dựng lấn chiếm sang đất nhà bà T1 với diện tích là 0,8m2 là có căn cứ. Vì vậy h ng có căn cứ để chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà T2 về vấn đề này.

[4] Từ các nhận định trên. Hội đồng x t xử x t thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của bà T2; sửa một phần bản án sơ th m về tranh chấp quyền sử dụng ngõ đi số 369 đường H.

[5] Về án phí sơ th m: Căn cứ điểm đ hoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa XIV. Miễn án phí sơ th m cho bà Trần Thị T1.

[6] Về án phí phúc th m: Do yêu cầu háng cáo được chấp nhận cho nên bà Vũ Thị T2 h ng phải nộp tiền án phí dân sự phúc th m.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

QUYẾT ĐỊNH:

Sửa một phần bản án sơ thẩm

- Căn cứ Điều 12, Điều 100, Điều 166, hoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

- Căn cứ Điều 254 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ hoản 1 Điều 147, hoản 1 Điều 157, hoản 1 Điều 165, hoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa XIV;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của bà Trần Thị T1 về việc xác định diện tích đất 0,8m2 giáp ngõ đi 369 đường H, phường B, thành phố N được giới hạn bởi các điểm FHIK (theo sơ đồ hiện trạng èm theo bản án) thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T1. Buộc bà Vũ Thị T2 có trách nhiệm tháo dỡ cổng xây dựng ở vị trí giáp tường bếp nhà bà Trần Thị T1.

2. Xác định ngõ 369 đường H, phường B, thành phố N diện tích 10,1m2 là ngõ đi riêng vào thửa đất số 134 tờ bản đồ số 4, phường B, thành phố N thuộc quyền sử dụng đất của bà Vũ Thị T2, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị T3, ng Vũ Đình Đ, ng Vũ Thiện K, bà Trần Thị Đ, chị Vũ Thị H, anh Vũ Đình H1, anh Vũ Đình H2.

3. Xác định mốc giới thửa đất số 321 tờ bản đồ số 4 phường B, thành phố N thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T1 như sau: Mặt giáp đường H có kích thước 6,97m. Mặt giáp thửa đất số 1 tờ bản đồ số 5 có ích thước 8,21m. Mặt giáp thửa đất 134 tờ bản đồ số 4 có ích trước 6,68m. Mặt giáp ngõ 369 đường H được giới hạn bởi các điểm ABC (theo sơ đồ hiện trạng èm theo bản án) ích thước 8,11m, diện tích thửa đất 321 tờ bản đồ số 4 phường B, thành phố N là 56,5m2.

4. Xác định mốc giới ngõ 369 đường H, phường B, thành phố N được giới hạn bởi các điểm ABCDE (theo sơ đồ hiện trạng èm theo bản án) diện tích 10,1m2.

5. Về án phí: Các đương sự h ng phải nộp tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo hoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc th m có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ