vanban.org

Bản án 32/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 màu trắng số IMEI 352700070171177. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:32/2019/HSST
Ngày 11-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Ngọc Thông.

Bà Đỗ Thị A.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc T; sinh năm: 1994 tại Đồng Nai; Nơi thường trú: ấp 4B, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc Huyền và bà: Võ Thị Thu Hương; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo được tại ngoại.

(bị cáo có mặt).

- Bị hại:

Bà Tạ Thúy H, sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: 811/1 Bình Giã, Phường 10, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

NHẬN THẤY:

Các bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/01/2019, Phạm Ngọc T điện thoại và hẹn chị Tạ Thúy H đến cửa hàng số 44 Cửu Long, Phường 15, Quận 10, Thành phố H để mua điện thoại do chị Hà rao bán trên mạng. Khi gặp T yêu cầu phải có giấy bảo hành và sẽ giới thiệu thêm người mua nữa. Chị H đã nhờ anh Khoa là người chở mình đến gặp T về nhà lấy phiếu bảo hành. Trong lúc chờ T giả vờ nghe điện thoại và cầm điện thoại của chị Hà ra ngoài rồi bỏ chạy. Chị H đã đuổi theo và tri hô. Người dân đã bắt được T và giao cho công an Phường 15, Quận 10. Vụ việc được công an Phường 15, Quận 10 lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Phạm Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Tài sản bị chiếm đoạt là: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone X 64GB đã được thu hồi.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố điều tra đối với Phạm Ngọc T về hành vi “Cướp giật tài sản”.

Quá trình điều tra, Phạm Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành phố H đã truy tố: Phạm Ngọc T, về tội: “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Phạm Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Ngọc T đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, sau khi nêu lên những tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Phạm Ngọc T (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Ngọc T, xử phạt bị cáo T tù từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

Về vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 màu trắng. Xét đây là công cụ bị cáo dùng để liên lạc nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: tài sản đã được trả cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì nên không giải quyết.

- Ý kiến của bị cáo: không có gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đối với người tham gia tố tụng trong vụ án là bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội đối với bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội Cướp giật tài sản, theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản nhận dạng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác mà nhanh chóng công khai chiếm đoạt tài sản của bị hại nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

. Về tính chất của vụ án: bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác nhanh chóng, công khai chiếm đoạt tài sản và bỏ chạy, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội chưa gây thiệt hại lớn, tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu kịp thời.

. Về mức độ thực hiện hành vi phạm tội: bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã có ý định và sự chuẩn bị trước, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu quản lý tài sản, bị cáo đã chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình đã thực hiện.

. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại làm giảm bớt tác hại của tội phạm; bản thân bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án tiền sự; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên áp dụng điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T.

. Bị cáo có hành vi ngang nhiên xâm hại đến quyền sở hữu của người khác. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy dù có chiếu cố đến đâu đi nữa, thì hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương

Về vật chứng của vụ án:

- Ngày 17/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 10 lập biên bản về việc trả lại đồ vật cho chị Tạ Thúy Hà 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu bạc 64GB là có căn cứ, phù hợp với khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 màu trắng. Xét đây là vật chứng bị cáo dùng để liên lạc nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm h, s khoản1 , khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Ngọc T;

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 màu trắng số IMEI 352700070171177.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo thì tính từ ngày tuyên án, đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ