vanban.org

Bản án 32/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 14/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc S… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 32/2019/HSST Tuyên án 14/03/2019
Phúc thẩm Bản án 430/2019/HSPT Tuyên án 13/06/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc S phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HSST
Ngày: 14/3/2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đệ.

Bà Vũ Thị Mai.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Cán bộ Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2019/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28 ngày 14/02/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Phúc S, sinh năm: 1976; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu tập thể trường Cao đẳng Xây dựng số 2, xã P, thành phố NĐ, tỉnh NĐ; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Phúc C và con bà: Phạm Thị M; Tiền án, tiền sự: Ngày 10/9/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 06/12/2013, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 30/11/2015, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử 33 tháng tù tội Trộm cắp tài tài sản. Ra trại ngày 12/02/2018; Bị cáo bị bắt ngày 20/11/2018; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Anh Lê Khắc C, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Tổ 7 H, G, H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1946; ĐKHKTT: Khu tập thể trường Cao đẳng Xây dựng số 2, xã P, thành phố NĐ, tỉnh NĐ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 17/11/2018 S có mang theo một chiếc vali bằng vải màu đen, kích thước khoảng 75x45x20cm đến thuê phòng 306 khách sạn S – địa chỉ: Số 10 ngõ 198 Đ, L, Đ, H để nghỉ. Khoảng 03 giờ ngày 18/11/2018, S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc tivi nhãn hiệu Toshiba trên giá treo tường trong phòng mang về nhà sử dụng. S liền nhấc chiếc tivi khỏi giá treo bỏ vào chiếc vali của S rồi mang xuống gặp lễ tân là anh Nguyễn Đức L ( Sinh 1985, HKTT: thôn N, xã H, L, tỉnh HN) thanh toán trước 150.000 đồng ( một trăm năm mươi ngàn đồng) và nói với anh L là có việc ra ngoài đưa đồ. Sau đó S mang tivi về nhà ở ngõ 6 phòng 102E4. M. Đ, H.

Tối ngày 18/11/2018 S xảy ra mâu thuẫn với gia đình nên đã mang chiếc tivi trộm cắp được ở khách sạn S đến nhà nghỉ 3A – Địa chỉ: Số 3 ngõ 342/41 Đ, Đ, X, H thuê phòng 203 ngủ qua đêm. Trước khi lên phòng S có gửi ở sản lễ tân chiếc tivi trộm cắp được ở khách sạn S. Đến khoảng 10 giờ ngày 19/11/2018 Cơ quan công an phát hiện S ở đây nên mời về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an S đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 466/ĐGTS ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản quận Đống Đa kết luận: trị giá tivi nhãn hiệu Toshiba 32 inch là 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng)

Ngoài ra, Cơ quan công an còn thu giữ của S: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu trắng BKS: 18H – 4517; 01 chiếc vali bằng vải màu đen; 01 chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Dongchung – DZE 110; 01 máy khoan bê tông nhãn hiệu FEG loại EG560; 01 chiếc điện thoại di động Samsung màu đen; 01 chiếc điện thoại OPPO màu trắng.

Qua điều tra xác định nguồn gốc chiếc xe máy Honda Lead là của bà Phạm Thị M ( Sinh năm 1946, HKTT: Khu tập thể xây dựng, xã P, tp. NĐ, tỉnh NĐ) là mẹ đẻ S đứng tên chính chủ. Bà M cho S mượn để đi lại hàng ngày. Còn số tài sản còn lại Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định nguồn gốc là của Nguyễn Phúc S, S không sử dụng số tài sản này vào mục đích phạm pháp. Cơ quan CSĐT – Công an quận Đống Đa đã trao trả chiếc xe máy Honda Lead và toàn bộ số tài sản trên cho bà Phạm Thị M.

Đối với chiếc vali Cơ quan CSĐT – Công an quận Đống Đã đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa để đảm bảo việc xét xử và thi hành án theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 24/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Nguyễn Phúc S về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Phúc S về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc S 10 tháng đến 14 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu sung công nhà nước chiếc va li màu đen thu giữ của bị cáo do có liên quan đến hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì;

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng phản ánh, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản về việc người phạm tội, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu đã thu thập được. Nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 18/11/2018 tại phòng khách sạn S – địa chỉ: Số 10 ngõ 198 Đ, L, Đống Đa, H, Nguyễn Phúc S có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc tivi nhãn hiệu Toshiba 32 inch của anh Lê Khắc C trị giá tài sản là 900.000 đồng ( chín trăm ngàn đồng).

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Có đủ cơ sở để khẳng định Nguyễn Phúc S phạm tội Trộm cắp tài sản. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội; Bị cáo có nhân thân xấu, đã được cải tạo giáo dục nhiều lần mà vẫn tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại cho người bị hại, gây hoang mang dư luận. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo tự để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên Tòa không xem xét; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ tài sản trả lại, không có ý kiến gì nên Tòa án không xem xét.

Về vật chứng: Tịch thu sung công nhà nước chiếc va li màu đen thu giữ của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc S 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2018.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công nhà nước chiếc va li màu đen (theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 99 ngày 29/01/2019 tại Chi cục Thi hành án quận Đống Đa).

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ