vanban.org

Bản án 32/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (01/02/2019). Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Truy thu sung qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HS-ST
Ngày 24-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Trần Văn Luyện.

2. Ông: Nguyễn Văn Đương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hợi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Nhà văn hoá xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1996. Nơi cư trú: Xóm Đồng Rào, xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tú, sinh năm 1956 và bà Trần Thị Minh (chết); Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2019 đến nay,hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Anh Dương Quốc Công, sinh năm 1996.

Trú tại: Xóm 1, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn, sinh năm 1982. Trú tại: Xóm Đồng Rào, xã Công Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An.(Vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn Chỉ, sinh năm 1994. Trú tại: Xóm Rú, xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

ào khoảng 5 giờ

01 năm 2019, Nguyễn Văn T, sinh ngày: 03/6/1996, trú tại: xóm Đồng Rào, xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An bắt xe bus đi từ nhà T đến quán bánh mỳ Trường Giang tại xóm 1, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

06 giờ 00 cùng ngày, T đi đến quán bánh mỳ nêu trên thì phát hiện trong quán bánh mỳ không có người và cửa quán không đóng. T tiếp tục đi vào ngôi nhà tranh bên cạnh quán bánh mỳ. Khi vào trong nhà T thấy 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng màn hình bị vỡ để ở đầu giường và 01 (một) loa thùng loại có thể kết nối bluetooth, màu đen, kích thước 30x40x60cm để ở trên mặt đất sát đầu giường. Thấy vậy, T dùng tay trái lấy chiếc điện thoại Iphone 5 bỏ vào túi quần trái và dùng tay phải lấy chiếc loa rồi mang ra ngoài và bắt xe bus đi về nhà T. Khoảng 7 giờ 00 cùng ngày, T về đến nhà, sau đó, T mang chiếc loa thùng vừa trộm được sang nhà anh Nguyễn Văn, sinh ngày: 12/6/1982, trú tại: Xóm Đồng Rào, xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Gặp anh Văn đang ở nhà một mình, T nói: “Có cái loa đây anh lấ

T là hỏi anh Văn có mua chiếc loa nêu trên hay không. Văn trả lời: “Loa răng đó?”, T nói: “ Loa bờ lu tút, anh lấy đi mà nghe, đưa tui trăm” là T muốn bán cho anh Văn chiếc loa với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Anh Văn trả lời: “Giừ trong nhà chưa có tiền, cần thì để ta đi mượn đã”.

, T đồng ý và tiếp tục đi chơi. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T đang ở cổng trường Tiểu học cơ sở xã Công Thành thì gặp anh Nguyễn Văn Chỉ, sinh năm: 1994, trú tại: Xóm Rú, xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. T nói với Chỉ: “Có cái điện thoại đây, lấy cho thằng cậu hấn dùng” đồng thời dùng tay cầm chiếc điện thoại Iphone 5 mà T đã trộm đưa ra cho Chỉ xem. Chỉ xem điện thoại một lúc thì đồng ý mua và đưa cho T số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

, sau đó, T đi về đến cổng nhà anh Văn thì gặp anh Văn và anh Văn đưa cho T 100.000đ (một trăm nghìn đồng). T cầm tiền rồi đi về nhà.

.

10 giờ 30 phút, ngày 01/02/2019 sau khi được sự động viên của gia đình và cơ quan công an, T đã tự nguyện đến Công an huyện Đô Lương xin đầu thú về hành vi nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KLĐG ngày 01/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND huyện Đô Lương kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ phía trước có giá trị 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). 01 (một) chiếc loa thùng màu đen loại có thể kết nối Bluetooth, kích thước 30x40x60 cm, đã qua sử dụng có giá trị 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Như vậy, tổng giá trị tài sả

ếm đoạt là : 3.100.000đ (Ba triệu một trăm nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ phía trước 01 (một) chiếc loa thùng màu đen loại có thể kết nối Bluetooth, kích thước 30x40x60 cm, đã qua sử dụng

, xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên đã tiến hành trả lại cho người bị hạ

, sinh năm 1996, trú tạ

.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hạ nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bồi thường thêm về mặt dân sự.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 18/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 04 đến 06 tháng tù; Miễn hình phạt phụ là phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên toà người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ. Xét việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: vào khoản 06 giờ ngày 22/01/2019, tại xóm 1, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, Nguyễn Văn T đã lấy trộm một chiếc điện thoại Iphone 5 và một chiếc loa thùng có kết nối Bluetooth của anh Dương Quốc Công, tổng tài sản trị giá 3.100.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh, xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý bất an trong xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, hoàn toàn đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ nghiêm.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù các bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, nhưng qua xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tài sản không có gì đáng giá vì vậy không áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Trong vụ án này, có Nguyễn Văn và Nguyễn Văn Chỉ là người mua lại chiếc loa thùng và điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có nhưng anh Văn và anh Chỉ không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương không đặt ra để xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Chiếc loa thùng và điện thoại di động cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Dương Quốc Công. Xét thấy việc xử lý tài sản trên của Cơ quan điều tra, Công an huyện Đô Lương không có khiếu nại, tố cáo nên phù hợp, Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết;

Về biện pháp tư pháp: Số tiền 200.000 đồng Nguyễn Văn T được hưởng lợi khi bán chiếc loa thùng và chiếc điện thoại di động của anh Dương Quốc Công là bất hợp pháp, chưa được thu hồi nên cần truy thu từ Nguyễn Văn T để sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (01/02/2019).

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tại bị cáo Nguyễn Văn T.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- - VKSND huyện Đô Lương;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- - Công an huyện Đô Lương;

- - THADS huyện Đô Lương;

- - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;

- - Bị cáo;

- - Người bị hại;

Nguyễn Đức Anh

- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- - Lưu hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ