- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H-K1 Điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:32/2019/HS-ST Ngày 20-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Kim Nhung.
2.Ông Đinh Công Trường
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Nam– Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST-HS ngày 15/02/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2019/QĐST-HS ngày 26/02/2019 đối với bị cáo
-Nguyễn Văn H, sinh năm 1982,tại Quảng Bình.
Hộ khẩu thường trú: khu phố Q, phường E, thị xã B, tỉnh Quảng Bình ; Chỗ ở hiện nay : Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ văn hóa 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha không rõ họ tên ; Mẹ là bà Nguyễn T, sinh năm: 1951; Bị cáo là con lớn trong gia đình; Vợ là Triệu T, sinh năm 1987; Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm: 2010, con nhỏ nhất sinh 2012
Tiền án: 01. Ngày 19/4/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ) tuyên phạt 15 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Đến nay bị cáo chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-Bị hại: Ông Võ Văn P, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Trú tại: Khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Triệu T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Trú tại: Khu phố P , phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
+ Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
Địa chỉ: đường A, phường b, thành phố C, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
-Người làm chứng:
+ Ông Trịnh Minh C, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
+ Ông Phạm A, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố T, Phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyễn Văn H hàng ngày thường xuyên đi làm phụ hồ ngang qua khu vực nhà xưởng của anh Võ Văn P, sinh năm 1988, ở tại khu phố B, phường M, thị xã P, phát hiện thấy có nhiều cùi đá mài (chỉ còn lại phần nhôm) để trong xưởng nên nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 00 giờ ngày 11/9/2018, H điều khiển xe mô tô BKS 72C1 – 016.00 đi đến khu vực nhà xưởng của anh P, H giấu xe mô tô của mình ở trong bụi cây cách xưởng khoảng 200m rồi đi bộ lại khu vực cổng nhà xưởng và chui vào khe hở ở dưới cổng để vào bên trong. Khi vào được bên trong nhà xưởng, H bắt đầu bê cùi đá mài ra ngoài cổng. H chui vào 03 lần và bê ra 03 chồng ( tổng cộng 76 viên cùi đá mài). H mang tất cả số cùi đá mài trên ra cất giấu ở khu vực vắng và kiếm bao bỏ vào. Sau khi H cho tất cả số tài sản đã trộm cắp được vào bao, bỏ lên xe gắn máy chuẩn bị tẩu thoát thì bị lực lượng công an phường Mỹ Xuân phát hiện bắt quả tang cùng tang vật
Tại bản kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐG-TTHS ngày 10/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân thị xã Phú Mỹ kết luận: 76 viên cùi đá mài, trọng lượng 57 kg đã qua sử dụng có trị giá là 775.200đ (Bảy trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Về vật chứng vụ án: Ngày 15/12/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ đã trả lại 76 cùi đá mài cho chủ sở hữu là anh Võ Văn P theo quyết định xử lý vật chứng số 106/QĐ ngày 24/10/2018 và biên bản về việc trao trả lại đồ vật, tài liệu ngày 17/12/2018
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 72C1 – 016.00, quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ xác định chị Triệu T, sinh năm 1987 (vợ của bị cáo Nguyễn Văn H) là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nói trên (chị Hằng mua lại của ông Nguyễn Ngọc S). Vào ngày 11/9/2018, khi H lấy xe đi, chị Hằng không biết H sẽ sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 17/12/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ đã trả lại cho chị Hằng theo quyết định xử lý vật chứng số 07/QĐ ngày 17/12/2018 và biên bản về việc trao trả lại đồ vật, tài liệu ngày 15/12/2018
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Võ Văn P đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Triệu T đã nhận lại chiếc xe nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 72C1 – 016.00 không có yêu cầu gì
- Tại bản Cáo trạng số: 32/CT- VKS ngày 28/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 06 đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Võ Văn P đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Triệu T đã nhận lại chiếc xe nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 72C1 – 016.00 không có yêu cầu gì
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an thị xã Phú Mỹ, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng nêu trên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án và tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu, lời khai người bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 00 giờ ngày 11/9/2018, tại khu vực nhà xưởng của anh Võ Văn P ở khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Văn H đang có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa xóa án tích, đã có hành vi lén lút đột nhập vào xưởng của anh P lấy trộm 76 viên cùi đá mài của anh P có giá trị là 775.200đ (Bảy trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, tuy nhiên do bản tính thích hưởng thụ nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng.
Mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm cắp chỉ là 775.200đ (Bảy trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm đồng). Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, bị cáo vẫn chưa được xóa án tích của bản án số 30/2017/HSST ngày 19/4/2017. Do vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H có đủ dấu hiệu tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Viện kiểm sát truy tố.
Với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhưng thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, lại thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, tài sản bị thiệt hại cũng đã được thu hồi trả cho bị hại. Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật
Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo làm nghề phụ hồ,thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Võ Văn P đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Triệu T đã nhận lại chiếc xe nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 72C1 – 016.00 cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (Chín) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong
3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Võ Văn P đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Triệu T đã nhận lại chiếc xe nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 72C1 – 016.00 cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 06 – Công an tỉnh BR-VT; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - CCTHA dân sự thị xã Phú Mỹ; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; các đương sự; Lưu HS vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Thị Hiền |