vanban.org

Bản án 32/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Đoái Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đoái Văn M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 26/10/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoái Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đoái Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HS-ST
Ngày: 26-02-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Việt Hưng

2. Bà Nguyễn Minh Phương.

- Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Đoái Văn M, sinh năm 1990, tại Cần Thơ;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 80/4/60, Điện Biên Phủ, phường An

Lạc, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: không

Nghề nghiệp: không;

Trình độ học vấn: 02/12;

Cha: Họ và tên cha: Đoái Thanh S, sinh năm: 1978 (sống);

Họ và tên mẹ: Lý Thị N, sinh năm: 1972 (sống).

Bị can có 02 người em: sinh năm: 2000 và năm 2001;

Tiền sự: Không

Tiền án: 01 lần ( Ngày 13/8/2015, Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 03 năm 06 tháng tù, chấp hành xong ngày 28/4/2018).

Bị cáo bị bắt ngày 26/10/2018, có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bị hại: Châu Chí D (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 695, ấp Thạnh Hưng 1, xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan: Châu Chí Đ (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 695, ấp Thạnh Hưng 1, xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ sáng ngày 23/10/2018, Đoái Văn M một mình đi bộ trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi vào bãi giữ xe của ông Châu Thành D tại số 12 đường Phan Đình Phùng, phường T A, quận N thì M bị ông D phát hiện nên giả vờ hỏi thăm rồi bỏ đi. Đến 04 giờ 20 phút cùng ngày thì M quay lại bãi giữ xe thì thấy ông D đã ngủ, M lén di chuyển đến vị trí xe mô tô Honda Winner biển số 67F1-329.26 (của Châu Chí Đ) đang để trước cửa sổ rồi dẫn bộ tẩu thoát ra đường Phan Đình Phùng, sau đó M dẫn xe giấu ở đuôi xe tải trên đường Châu Văn Liêm. Tiếp đó, M dẫn bộ xe đi vào đường Nguyễn Du rồi đi vào Hẻm 29 đường Ngô Đức Kế đi tắt ra Hẻm 133 đường Phan Đình Phùng rồi dẫn xe về nhà tại số 80/4/60 Điện Biên Phủ, phường An Lạc, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ cất giấu. Đến 06 giờ ngày 23/10/2018, ông D (cha ruột Đ) phát hiện mất xe, kiểm tran Camera phát hiện có hình ảnh đối tượng lấy trộm xe nên trình báo công an phường Tân An làm rõ.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, M dùng kéo để bẻ khóa xe nhưng không được nên bỏ ra ngoài. Ông Đoái Thanh S là cha ruột của M thấy xe mô tô lạ dựng trong nhà và biết được thông tin Công an đang xác minh tìm xe mô tô Honda Winner biển số 67F1-329.26 có đặc điểm giống xe trong nhà mình nên đã tự nguyện mang xe giao nộp cho Công an phường TA để làm rõ.

Qua rà soát đối tượng trên địa bàn và đối chiếu hình ảnh Camera thu thập được. Cơ quan điều tra tiến hành mời Đoái Văn M làm việc. Tại cơ quan điều tra, Mạnh thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Winner màu trắng xanh biển số 67F1-329.26; 01 áo khoác tay dài, màu đen có logo chữ Adidas; 01 nón kết màu đen có chữ PUMA; 01 đôi dép quai ngang màu trắng; 01 bóp da màu đen hiệu Dior và tiền Việt Nam: 117.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1084/BKL-HĐĐG ngày 30/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ninh Kiều xác định xe mô tô Honda Winner biển số 67F1-329.26 có giá trị 40.000.000 đồng.

Đối với tang vật thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 67F1-329.26 đã làm rõ là tài sản của anh Châu Chí Đ (con ông D). Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Đ nhận lại xong, anh Đ không yêu cầu bồi thường.

Các vật chứng khác chuyển tòa xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 05 tháng 01 năm 2019 Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố Đoái Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Căn cứ vào các lời khai của bị cáo được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa, tang vật thu giữ đã đủ cơ sở truy tố bị cáo Đoái Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo M với mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tịch thu tiêu hủy đối với 01 cái áo khoác dài tay, màu đen có logo Adidas; 01 nón kết màu đen hiệu PUMA; 01 đôi dép quai ngang màu xanh trắng và trả lại cho bị cáo 01 bóp da màu đen hiệu Dior và số tiền 117.000 đồng (Một trăm mươi bảy ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo, người bị hại trong quá trình điều tra cũng như lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở xác định vào ngày 24/01/2018, M đã đi vào nơi trông giữ xe của ông D để quan sát và lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô Honda Winner biển số 67F1-329.26 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Đây là hành vi lén lút nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Theo biên bản định giá số 1084/BB.HĐĐG ngày 30/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND quận Ninh kiều xác định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng) nên Viện kiểm sát nhân dân Quận Ninh kiều đã truy tố bị cáo Đoái Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng pháp luật.

Xét động cơ phạm tội của bị cáo là tham lam, mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật để thỏa mãn cho nhu cầu của cá nhân của các bị cáo. Đây là lỗi cố ý trong ý thức phạm tội.

Hành vi trên của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Do vậy, việc làm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tác động xấu đến trật tự trị an trong xã hội. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo và đã ăn năn hối cải, tuy nhiên bị cáo có 01 tiền án nhưng chưa được xóa án tích nên khi xem xét quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc mức hình phạt cho tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 cái áo khoác dài tay, màu đen có logo Adidas; 01 nón kết màu đen hiệu PUMA; 01 đôi dép quai ngang màu xanh trắng có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 bóp da màu đen hiệu Dior và số tiền 117.000 đồng (Một trăm mươi bảy ngàn đồng) là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: buộc bị cáo phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Đoái Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

Đoái Văn M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 26/10/2018.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy 01 cái áo khoác dài tay, màu đen có logo Adidas; 01 nón kết màu đen hiệu PUMA; 01 đôi dép quai ngang màu xanh trắng.

Trả lại cho bị cáo 01 bóp da màu đen hiệu Dior và số tiền 117.000 đồng (Một trăm mươi bảy ngàn đồng).

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ