vanban.org

Bản án 32/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 10/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 16 (mười sáu) tháng tù; bị cáo được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ. Bị cáo còn phải thi hành tiếp là 15 (mười lăm) tháng 21 (ha mốt) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày bị cáo vào trại thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HS-ST
Ngày 10 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Cương.

Ông Nguyễn Bá Sửu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2019/TLST- HS ngày 16/8/2019; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/QĐXXST- HS ngày 30/8/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh S, sinh năm 1984; nơi ĐKNKTT: Tiểu khu 19/5, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Xuân Đ (đã chết), bà Hà Thị H, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án:

Ngày 10/12/2007 bị TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 140 BLHS (đã được xóa án tích).

Ngày 27/8/2008 bị TAND thành phố Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS (đã được xóa án tích).

Tiền sự:

Ngày 18/7/2014 Công an huyện Mai Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP (đã thi hành xong);

Ngày 6/9/2014 Công an huyện Mai Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP (đã thi hành xong)

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/5/2019 đến ngày 13/5/2019 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 5 năm 2019 tổ công tác Công an huyện Yên Châu phối hợp với Công an xã Yên Sơn thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại địa phận bản Thanh Yên 1, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu thì phát hiện một thanh niên điều khiển xe máy hướng Phiêng Khoài - Yên Sơn có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hàn dừng xe kiểm tra, đối tượng khai nhận là Nguyễn Thanh S, sinh năm 1984, trú tại Tiểu khu 19/5, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La vừa đi sang Lào mua ma túy về để sử dụng, đồng thời S tự giác lấy ra trong túi áo khoác bên trái đang mặc 01 gói giấy màu bạc bên trong có 02 viên nén màu hồng + 01 gói giấy màu bạc bên trong có chất nhựa dẻo màu nâu + 01 gói nilon màu hồng bên trong có cục bột màu trắng. Nguyễn Thanh S khai nhận đó là 02 viên hồng phiến + nhựa cây thuốc phiện + Heroine vừa mua được bên Lào đang trên đường mang về sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thấy có hành vi của việc tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số vật chứng gồm:

- 01 gói giấy màu bạc, bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp;

- 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa cục bột màu trắng nghi là Heroine;

- 01 gói giấy màu bạc, bên có chứa chất nhựa màu nâu, dẻo, nghi là nhựa thuốc phiên;

- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Oppo F9 màu xanh dương thu giữ của Nguyễn Thanh S.

- 01 ví da màu nâu bên trong có tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 3.000.000đ; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Thanh S.

- 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, BKS 26L1- 021.68.

Ngày 06 tháng 5 năm 2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu phối hợp với Phòng PC09 - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịch xác định trọng lượng tang vật thu giữ của Nguyễn Thanh S.

- 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng có khối lượng 1,8 gam; trích 0,18 gam để giám định kí hiệu H gửi trưng cầu giám định chất ma túy;

- 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,20 gam; trích 0,20 gam để giám định kí hiệu M gửi trưng cầu giám định chất ma túy;

- 01 cục nhựa dẻo màu nâu có khối lượng 6,96 gam ; trích 0,76 gam để giám định ký hiệu là T trưng cầu giám định chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số: 862 ngày 07/05/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Mẫu giám định ký hiệu T là ma túy; loại nhựa thuốc phiện; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,76 giam. Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định 0,18 gam.

Tại phiên tòa bị cáo triệu tập xét hỏi, thẩm tra trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình như trong quá trình điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo đều nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Thanh S khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 04 tháng 5 năm 2019 mang theo số tiền 4.000.000đ một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát: 26L1- 021.68 của gia đình đi từ nhà theo Quốc lộ 6c đến xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu qua trạm kiểm soát Biên phòng Keo Muông đến cột mốc 235 và vượt biên trái phép sang Lào để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến bản Co Hay- Lào, Nguyễn Thanh S gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, đang đi bộ, Sơn dưng xe hỏi người phụ nữ đó có ma túy bán không? Người phụ nữ đó trả lời có. S hỏi mua 700.000 đồng Heroine và 300.00 đồng nhựa thuốc phiện, S lấy trongtúi quần ra 1.000.000đ, người phụ nữ đó nhận tiền nói với S chờ ở đây, rồi đi bộ vào trong bản Co Hay. Khoảng một tiếng sau người phụ nữ dân tộc mông quay lại chỗ S, đưa cho S 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine, 01 gói giấy màu bạc bên trong có chứa nhựa thuốc phiên, người phụ nữ đó cho S thêm 3 viên Methamphetamine. Sau khi mua được ma túy, S lấy ra 01 ít Heroine trộn lẫn với 01 viên Methamphetamine pha cùng với nước cất sử dụng bằng hình thức tiêm, chích. Sau khi sử dụng xong S gói lại số Heroine vừa mua được bằng nilon cũ và 02 viên Methamphetamine, S dùng mảnh giấy bạc trong bao thuốc lá S vừa hút gói lại. Sau đó S cất giấu toàn bộ số ma túy trên vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người điều khiển xe máy BKS 26L1- 021.68 quay về theo đường cũ. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày S đi đến địa phận bản Thanh Yên 1, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu thì tổ công tác Công an huyện Yên Châu phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 36/2019/CT- VKSYC ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thanh S từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) Phong bì giấy màu trắng mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho tang vật vụ Nguyễn Thanh S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 04/5/2019 gồm: Mẫu N1 = 1,62 gam + mẫu N2 = 6,20g + 1 phong bì giấy niên phong vật chứng ban đầu + 02 mảnh giấy màu bạc + 01 mảnh nilon màu hồng” và 01 BKS 26L1- 021.68.

- Tịch thu sung công nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, đỏ trắng, số khung đã bị chà mòn, số máy: 3340097, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy, tình trạng xe, xe không có giấy tờ kèm theo, không chìa khóa, không gương chiếc hậu xe cũ đã qua sử dụng.

- Chấp nhận ngày 22/5/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công huyện Yên Châu đã trả: Nguyễn Thanh S 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OppoF9 màu xanh dương, 01 ví da màu nâu bên trong có tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 3.000.000đ; 01 chứng minh thư nhân mang tên Nguyễn Thanh S.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình , như đã khai tại cơ quan Điề u tra , số ma túy bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu thu giữ có nguồn gốc là mua của người phụ nữ dân tộc Mông, quốc tịch Lào, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thanh S do tổ công tác Công an huyện Yên Châu lập vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 04/5/2019, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số 862 ngày 07/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,20 gam; loại Methamphetamine; 6,96 gam loại thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); 1,80 gam; loại Heroin. Methamphetamine nằm trong danh mục 323 mục IIB Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ quy định các chất ma túy và tiền chất; Heroin nằm trong danh mục 9 mục IA Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ quy định các chất ma túy và tiền chất; Thuốc phiện nằm trong danh mục 398 mục IID Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ quy định các chất ma túy và tiền chất.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thanh S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy, nhưng do nghiện chất ma túy, nên ngày 04/5/2019 bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,20g Heroine, 1,8 gam Methamphetamine và 6,96 gam nhựa thuốc phiện mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại Điều 249 BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của BLHS năm 2015 thì trọng lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Thanh S được xác định như sau:

- Tỉ lệ % ma túy Methamphetamine và Heroin so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là: 1,8 gam + 0,2 gam = 2.0 gam x 100/5 = 40%.

- Tỉ lệ % nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu quy định tại điểm e khoản 2 Điều 249 BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là: 6,96 gam x 100/500 = 1,39%.

Tổng phần trăm của các chất ma túy bị cáo Nguyễn Thanh S tàng trữ là 40% + 1,39% = 41,39 % dưới mức tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ những đánh giá nêu trên HDXX nhận định hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu đó là: Tại bản án số 169/2007/HSST ngày 10/12/2007 của TAND huyện Mai Sơn xử phạt 6 tháng tù giam và tại bản án số 26/2008/HSST ngày 27/3/2008 của TAND thành phố Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về tội ma túy (đã được xóa án án tích); bên cạnh đó: Ngày 18/7/2014 Công an huyện Mai Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP (đã thi hành xong) và ngày 6/9/2014 Công an huyện Mai Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP (đã thi hành xong). Mặc dù bị cáo đã thi hành xong các bản án và thi hành xong các quyết định xử phạt hành chính nhưng phải xác định nhân thân của bị cáo là xấu. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội về ma túy thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

3 Về hì nh phạ t bổ sung : Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đ (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

4 Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) Phong bì giấy màu trắng mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho tang vật vụ Nguyễn Thanh S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 04/5/2019 gồm: Mẫu N1 = 1,62 gam + mẫu N2 = 6,20g + 1 phong bì giấy niên phong vật chứng ban đầu + 02 mảnh giấy màu bạc + 01 mảnh nilon màu hồng” và 01 BKS 26L1- 021.68. Xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy là phù hợp với khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OppoF9 màu xanh dương, 01 ví da màu nâu, tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 3.000.000đ; 01 chứng minh thư nhân mang tên Nguyễn Thanh S. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, ngày 22/5/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả lại tài sản trên cho bị cáo. Xét thấy việc giao trả tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp của Cơ quan cảnh sát điều tra là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, do đó cần chấp nhận.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, đỏ trắng, số khung đã bị chà mòn, số máy: 3340097, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy, tình trạng xe, xe không có giấy tờ kèm theo, không chìa khóa, không gương chiếc hậu xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra không xác định rõ được chủ sở hữu hợp pháp, bị cáo dùng chiếc xe làm phương tiện phạm tội, do đó căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 BLTTHS cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

5 Về các vấn đề khác:

Theo lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh S đối với người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên tuổi gặp và mua ma túy ở trên đường thuộc bản Co Hay- Lào. Nơi diễn ra việc mua bán ma túy trên địa phận nước CHDCND Lào. Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu chưa đủ cơ sở để xử lý.

Quá trình điều tra bị cáo bị Cơ quan CSĐT công an huyện Yên Châu tạm giữ 09 ngày từ ngày 04/5/2019 đến ngày 13/5/2019, do đó khi quyết định hình phạt cần khấu trừ thời gian tạm giữ trên đối với bị cáo.

6 Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 16 (mười sáu) tháng tù; bị cáo được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ. Bị cáo còn phải thi hành tiếp là 15 (mười lăm) tháng 21 (ha mốt) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày bị cáo vào trại thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) Phong bì giấy màu trắng mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho tang vật vụ Nguyễn Thanh S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 05/5/2019 gồm: Mẫu N1 = 1,62 gam + mẫu N2 = 6,20g + 1 phong bì giấy niên phong vật chứng ban đầu + 02 mảnh giấy màu bạc + 01 mảnh nilon màu hồng” và 01 BKS 26L1- 021.68.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, đỏ trắng, số khung đã bị chà mòn, số máy: 3340097, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy, tình trạng xe, xe không có giấy tờ kèm theo, không chìa khóa, không gương chiếc hậu xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo.

Chấp nhận ngày 22/5/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công huyện Yên Châu đã trả: Nguyễn Thanh S 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OppoF9 màu xanh dương, 01 ví da màu nâu bên trong có tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 3.000.000đ; 01 chứng minh thư nhân mang tên Nguyễn Thanh S.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ