- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/HS-ST Ngày 26 tháng 07 năn 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quốc Chinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bành Trọng Bình
Ông Nguyễn Văn Đoàn
- Thư ký phiên tòa: OÂng Hoàng Văn Hiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2019/TLST-HS, ngày 10 tháng 07 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 07 năm 2019 đối với bị cáo:
Triệu Minh P (Ba), sinh năm 1991 tại tỉnh Thái Nguyên.
Nơi đăng ký HKTT: Thôn 04a, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Con ông Triệu Quý T – SN: 1969 và bà Triệu Thị H – SN: 1970; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Có 01 tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/06/2019 (Bị cáo có mặt).
- Người bị hại:
Anh Phương Văn Th – SN: 1990
Địa chỉ: Thôn 04b, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn D – SN: 1986
Chị Võ Thị Lệ Th1 – SN: 1987
Địa chỉ: Thôn 07, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Anh Ma Thế Đ – SN: 1977
Địa chỉ: Thôn 04a, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
Anh Triệu Quyết T1 – SN: 1987
Địa chỉ: Thôn 04a, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Minh P và anh Phương Văn Th ở thôn 04b, xã C, huyện E quen biết nhau, vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/06/2019, P đến nhà anh Th để lấy quần áo của mình, lúc này anh Th đang nằm ngủ ở phòng khách, P đi đến đầu giường anh Th đang nằm, phát hiện 01 chiếc điện thoại Oppo, nên nảy sinh ý định trộm cắp, P lấy chiếc điện thoại này đi ra đường thì gặp anh Ma Thế Đ đang đi xe máy, P nhờ anh Đ chở đến tiệm cầm đồ D của gia đình anh Nguyễn Văn D ở thôn 07, xã R, huyện E, cầm cố lấy số tiền 1.000.000 đồng, (Anh Đ không biết điện thoại do P trộm cắp mà có), khi ra về P đổ xăng cho anh Đ 30.000 đồng và cho anh Đ 50.000 đồng, số tiền còn lại P dùng tiêu sài cá nhân hết. Sau khi bị phát hiện P bị Cơ quan điều tra bắt khẩn cấp.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, màu tím đen, 01 sim điện thoại Viettel 4G có số series: 8984048000004243136.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐG ngày 18/06/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện E kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, màu tím đen trị giá 1.750.000 đồng.
Ngày 01/7/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, màu tím đen, 01 sim điện thoại Viettel 4G cho người bị hại là anh Phương Văn Th.
Cáo trạng số: 32/CT- VKS ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp truy tố bị cáo Triệu Minh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.
Người bị hại anh Phương Văn Th đã được nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền gì, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D, chị Võ Thị Lệ Th1 không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 1.000.000 đồng anh chị đã đưa để cầm cố chiếc điện thoại.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Triệu Minh P như nội dung bản cáo trạng và đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Triệu Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Minh P từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 17 ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp về việc trao trả tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, màu tím đen, 01 sim điện thoại cho người bị hại là anh Phương Văn Th.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, hoàn trả bất cứ khoản tiền gì nên không đặt ra để giải quyết.
Đề nghị truy thu số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Triệu Minh P sung công quỹ Nhà Nước.
Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Triệu Minh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/6/2019, tại thôn 04a, xã C, huyện E lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, P đã có hành vi lén lút, lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, màu tím đen của anh Phương Văn Th, trị giá điện thoại Oppo A3s là 1.750.000 đồng. Trước khi phạm tội này vào ngày 27/07/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 210/2017/HSPT, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 02/02/2019 nhưng chưa được xóa án tích.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp về tội danh truy tố, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Triệu Minh P đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
b) Đã bị kết án về tội này..........chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực hành vi để nhận thức được tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ai xâm phạm, bất hợp pháp sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng xuất phát từ động cơ, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động, coi thường pháp luật nên ngày 13/6/2019 bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại Oppo A3s trị giá 1.750.000 đồng. Trước khi phạm tội này vào ngày 27/07/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn cố ý thực hiện tội phạm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội chưa gây thiệt hại, tài sản đã được thu hồi và trả cho chủ sở hữu, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức có phần hạn chế đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Đối với anh Ma Thế Đ được bị cáo nhờ chở đến tiệm cầm đồ D vào ngày 13/6/2019 và nói trả tiền xăng xe, khi về bị cáo đã đổ xăng cho anh Đ 30.000 đồng và cho anh Đ 50.000 đồng tuy nhiên anh Đ không biết điện thoại bị cáo cầm cố là tài sản do trộm cắp nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xử lý là phù hợp.
Các biện pháp tư pháp:
Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, màu tím đen, 01 sim điện thoại Viettel 4G là tài sản bị cáo đã trộm cắp của anh Phương Văn Th. Ngày 01/7/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho anh Th là phù hợp cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, hoàn trả bất cứ khoản tiền gì nên không đặt ra để giải quyết.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng Vị đại diện viện kiểm sát đề nghị truy thu của bị cáo Triệu Minh P sung công quỹ Nhà Nước, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là số tiền bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn D, chị Võ Thị Lệ Th1 tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như đơn xin xét xử vắng mặt anh D, chị Th1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này nên không truy thu số tiền này của bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án. Bị cáo Triệu Minh P phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu Minh P 09 (Chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18 tháng 06 năm 2019.
Các biện pháp tư pháp:
Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số: 17 ngày 01/07/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp về việc trả lại tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, màu tím đen, 01 sim điện thoại Viettel 4G cho chủ sở hữu hợp pháp anh Phương Văn Th.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, hoàn trả bất cứ khoản tiền gì nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Minh P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nôi nhaän: - TA tænh Đắk Lắk; - VKSND tænh Đắk Lắk; - VKSND huyện Ea Súp; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - THA huyện E; - UBND xã C; - Bị cáo, caùc ñöông söï; - Löu HS vuï aùn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lưu Quốc Chinh |