vanban.org

Bản án 32/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 13/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Doãn S, giữ nguyên Bản án

hình sự sơ thẩm số: 04/2019/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG DOÃN S TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Doãn S, giữ nguyên Bản án
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HS-PT
Ngày 13-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Long Kiếm;

Các Thẩm phán: Ông Lộc Sơn Thái;

Ông Triệu Văn Thái.

- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh

Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:

Ông Tống Văn Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử

phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng

4 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Doãn S, do có kháng cáo của bị cáo đối với

Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2019/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Toà

án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Doãn S, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1998 tại huyện B, tỉnh Lạng

Sơn;

Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề

nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn

giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Doãn C và bà Dương Thị

T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số: 12/2018/QĐ-

TA ngày 31/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng

nhưng chưa thi hành; nhân thân: Tại Quyết định số: 01/2016/QĐ-TA ngày

04/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện

pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc 12 tháng; bị cáo bị

tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2018 đến nay, có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Lường Thị Dịu H, sinh ngày 03/02/1984; nơi cư trú: Thôn Q, xã V,

huyện B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

2. Ông Triệu Hữu K, sinh ngày 12/3/1988; nơi cư trú: Thôn L, xã N,

huyện B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H1,

sinh ngày 23/01/1992; nơi cư trú: Xóm V, xã V1, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 23/10/2018, Hoàng Doãn S sang nhà Nguyễn Văn T1

chơi, sau đó cả hai rủ nhau lên huyện B, tỉnh Lạng Sơn để mua hoa Phong lan. Khi đi đến cầu 13 thuộc thôn Q, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Rsx màu sơn trắng đen biển kiểm soát 12S1-09950 đang dựng cạnh đường. Cả hai đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên, Hoàng Doãn S lấy 01 tô vít hai cạnh dài khoảng 20cm để mở phá khóa chiếc xe mô tô trên, sau đó cả hai cùng điều khiển xe về chỗ ở của Nguyễn Văn T1. Khi về đến phòng trọ, Nguyễn Văn T1 nói để chiếc xe vừa trộm được cho Nguyễn Văn T1 sử dụng và trừ vào tiền nợ của Hoàng Doãn S đã nợ Nguyễn Văn T1 trước đó. Khi có được xe, Nguyễn Văn T1 đã tháo biển số, cạo xóa số khung, số máy. Ngày 28/10/2018, Nguyễn Văn T1 điều khiển xe đến phường T1, thành phố Thái Nguyên thì bị Công an phường kiểm tra hành chính, Nguyễn Văn T1 không xuất trình được giấy tờ xe nên đã đưa về trụ sở Công an làm việc. Quá trình làm việc, Nguyễn Văn T1 đã khai nhận cùng Hoàng Doãn S thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô này. Xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là bà Lường Thị Dịu H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T1 và Hoàng Doãn S còn khai nhận ngày

27/9/2018, cả hai đã cùng trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen có trùm chiếc áo mưa màu tím dựng ngoài hàng rào cạnh nhà khách Huyện ủy, đối diện Ban chỉ huy quân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 28/9/2018, cả hai đã cùng nhau đem bán chiếc xe máy trên cho một người đàn ông không quen biết ở huyện B, tỉnh Lạng Sơn với giá 3.000.000 đồng, chia nhau mỗi người 1.500.000 đồng tiêu sài. Xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là ông Triệu Hữu K, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 28/11/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh

Lạng Sơn đã yêu cầu định giá tài sản đối với hai chiếc xe máy trên. Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản số 12/HĐĐG-BS ngày 31/10/2018 và số 13/HĐĐG-BS ngày 30/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chiếc xe mô tô Honda Wave Rsx màu sơn đen trắng có giá trị tại thời điểm định giá là 14.500.000 đồng”, “Chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha màu sơn đen bạc chủ sở hữu là ông Triệu Hữu K có giá trị tính tại thời điểm định giá là 6.500.000 đồng”.

Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2019/HS-

ST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng

Sơn đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều

52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Doãn S 02

năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T1,

tuyên về trách nhiệm bồi thường thiệt hại; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng

cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Ngày 08/3/2019, bị cáo Hoàng Doãn S kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm

xem xét giảm nhẹ hình phạt dưới khung hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Doãn S kháng cáo xin giảm nhẹ

hình phạt.

Cũng tại phiên tòa, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều

vắng mặt, bị hại Triệu Hữu K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho

rằng, gia đình bị cáo đã nộp tiền thi hành án của Bản án sơ thẩm tại Chi cục Thi

hành án Dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn để bồi thường thiệt hại cho bị hại

Triệu Hữu K số tiền 4.000.000 đồng.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bị

cáo làm trong hạn luật định nên là hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về

tội danh Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ

thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét đầy

đủ về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đã áp dụng

đầy đủ các quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị hại Triệu Hữu K có

đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho rằng, gia đình bị cáo đã nộp tiền

thi hành án của Bản án sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bắc Sơn,

tỉnh Lạng Sơn để bồi thường thiệt hại cho bị hại Triệu Hữu K số tiền 4.000.000

đồng. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại

khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, tình tiết mới này

không làm thay đổi bản chất vụ án, không đủ căn cứ để giảm hình phạt cho bị

cáo. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, phục vụ tình hình

Chính trị tại địa phương, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều

355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2

Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không

chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Doãn S, xử giữ nguyên mức

hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản

thân mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ

án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Doãn S thừa nhận hành vi phạm

tội của bản thân, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Hoàng Doãn S về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Doãn S, Hội

đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù là phù hợp và có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị hại Triệu Hữu K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho rằng, gia đình bị cáo đã nộp tiền thi hành án của Bản án sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn để bồi thường thiệt hại cho bị hại Triệu Hữu K số tiền 4.000.000 đồng. Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng thêm cho bị cáo Hoàng Doãn S tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ mới này cũng không thay đổi được bản

chất vụ án, không đủ cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì: Bị cáo có nhân thân xấu, tại Quyết định số: 01/2016/QĐ-TA ngày 04/11/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc 12 tháng, đã được xác định không còn là tiền sự trong vụ án này, tình tiết này Bản án sơ thẩm không đề cập xem xét, đánh giá là thiếu sót cần rút kinh nghiệm; tại Quyết định số: 12/2018/QĐ-TA ngày 31/8/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng nhưng chưa thi hành, đây được xác định là tiền sự của vụ án; trong lúc trốn tránh chưa đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị cáo lại phạm tội. Bị cáo có vai trò chính trong vụ án, là người khởi xướng. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương góp phần giữ vững An ninh – Chính trị, tạo điều kiện ổn định phát triển kinh tế - xã hội, không chấp nhận kháng cáo về phần hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên phần hình phạt của Bản án sơ thẩm.

Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt của bị cáo Hoàng Doãn S, giữ nguyên nội dung Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt đối với bị cáo Hoàng Doãn S.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa phù hợp

với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Hoàng Doãn S không được chấp

nhận nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 135

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Doãn S, giữ nguyên Bản án

hình sự sơ thẩm số: 04/2019/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Toà án

nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ

thể:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1

Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Doãn S phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị

cáo Hoàng Doãn S 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày

31/10/2018.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hoàng Doãn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm để

sung quỹ Nhà nước.

3. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng

cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ