- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M - Vi Văn K"
- Tòa quyết gì? năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST Ngày: 18-11 - 2019 V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Xuân Nghiêm
2. Ông Nguyễ n Quố c Trườ ng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Chung - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành huyện Hữu
Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
160/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp Ly hôn
và nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXXST-
HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M , sinh năm 1995, có mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị đơn: Anh Vi Văn K, sinh năm 1994, vắ ng mặ t.
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Người làm chứng: Ông Vi Văn D, sinh năm 1968, có mặt. Địa chỉ: Thôn
B, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình
bày: biên bản trong quá trình tố tụng
Về quan hệ hôn nhân:
Chị và anh Vi Văn K kế t hôn từ năm 2013, được hai bên gia đình tổ chức
đám cưới theo phong tục tập quán. Nhưng đế n ngày 18 tháng 02 năm 2016, anh chị mớ i đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, anh Vi Văn K thường xuyên đi làm ăn xa không về , không quan tâm đến gia đì nh, vợ và các con. Chị và anh Vi Văn K sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầ u đượ c ly hôn với anh Vi Văn K.
Về con chung: Anh chị c ó 02 con chung là Vi Thị Hương T, sinh ngày
19/7/2014 và Vi Hải Đ, sinh ngày 05/7/2016. Do chị cũ ng đi là m ăn xa nên h iện hai con đang sống cùng bố mẹ anh Vi Văn K là ông Vi Văn D và bà Ma Thị M tại Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con đến khi con trưởng thành, không yêu cầu anh Vi Văn K cấp dưỡng nuôi con. Thờ i gian đầ u do chị đi là m xa chưa sắ p xế p đượ c công việ c về gầ n nên cũ ng nhờ ông bà nộ i hỗ trợ chăm só c hai chá u , đến khi sắ p xế p công việ c ổn định chị sẽ đón các con về .
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Vi Văn K đượ c Tò a á n triệ u tậ p hợ p lệ nhiề u lầ n nhưng đề u
vắng mặt và không có ý kiến trình bày.
Ngườ i là m chứ ng: ông Vi Văn D là bố đẻ của anh Vi Văn K quá trình giả i
quyế t vụ á n cũ ng như tạ i phiên tò a trình bày:
Ông là bố đẻ củ a anh Vi Văn K, còn chị Nguyễn Thị M là con dâu ông .
Về thờ i điể m kế t hôn và đăng ký kế t hôn giữ a chị Nguyễ n Thị M và anh Vi Văn K đú ng như ch ị M đã trì nh bà y . Quá trình chung sống giữa anh chị M – K đã xảy ra mâu thuẫn , cãi chửi nhau , nhưng nguyên nhân là do anh K con trai ông thườ ng bỏ nhà đi không về , không quan tâm đế n gia đì nh , vợ , con, còn chị M là con dâu ngoan hiề n. Gia đì nh đã khuyên bả o nhiề u nhưng anh K không thay đổ i. Các văn bản tố tụng , giấ y triệ u tậ p củ a Tò a á n giử i về , gia đì nh nhậ n và thông tin qua điệ n thoạ i cho anh K , khuyên bả o anh K về tham gia tố t ụng nhưng anh K cũng không về. Trướ c khi và o phiên tò a hôm nay ông cũng vừa gọi điện thoại anh K có nghe nhưng cũng không về và có ý kiến để giải quyết theo pháp luật nên gia đì nh ông đề nghị giải quyết ly hôn cho chị M theo quy đị nh củ a phá p luậ t. Về con chung củ a anh chị M – K, gia đì nh ông vẫ n luôn hỗ trợ giú p chị K nuôi hai con để con dâu ông yên tâm là m ăn và không yêu cầ u chị phải trả bất cứ chi phí gì , khi nà o chị M ổn định công việc có quyền về đón các con . Tài sản chung và nợ chung giữ a anh chị M – K không có gì.
Do bị đơn anh Vi Văn K không có mặ t tham gia tố tụ ng , nên Tò a á n
không tiế n hà nh hò a giả i đượ c giữ a cá c đương sự , nên quyế t đị nh đưa vụ á n ra xét xử. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị M giữ nguyên yêu cầ u khở i kiệ n.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa trong giai đoạ n chuẩ n bị xé t xử và tạ i phiên tò a đã thự c hiệ n đú ng quy đị nh củ a Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, tiến hành lập hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyền hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định. Hội đồng
xét xử đảm bảo đúng thành phần, tuân thủ nguyên tắc xét xử, trình tự, thủ tục
phiên tòa; Thư ký đã thực hiện đúng nhiệ m vụ , quyề n hạ n tạ i phiên tòa.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án
cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định
tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành và không
thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điể m về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các
Điều 19, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị M đượ c ly
hôn vớ i anh Vi Văn K. Về con chung là Vi Thị Hương T, sinh ngày 19/7/2014
và Vi Hải Đ, sinh ngày 05/7/2016 giao cho chị Nguyễ n Thị M trự c tiế p nuôi
dưỡ ng, chăm só c, giáo dục. Anh Vi Văn K không phả i cấ p dưỡ ng nuôi con do
chị M không yêu cầ u. Việc chị Nguyễn Thị M đồng ý cho các con tiếp tục ở với
ông Vi Văn D và bà Ma Thị M là do các bên thỏa thuận sau khi có bản án của
Tòa án đã có hiệu lực nên đề nghị không xem xét trong vụ án. Về tà i sả n chung
và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết . Nguyên đơn phải chịu án
phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của nguyên đơn, bố mẹ của bị đơn.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và xác định quan hệ tranh chấp : Nguyên đơn chị
Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn vớ i anh Vi Văn
K và yêu cầ u đượ c nuôi hai con chung. Vì vậy xác định quan hệ pháp luật của
vụ án là "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung". Bị đơn anh Vi Văn K có địa chỉ
thườ ng trú tạ i thôn B, xã H, huyệ n H nên vụ á n thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặ t đương sự : Tại phiên tòa ngày 05 tháng 11
năm 2019 và đến phiên tòa hôm nay (18/11/2019), bị đơn anh Vi Văn K đều
vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệ u tậ p hợp lệ, đồng thời anh
K cũng không cung cấp lờ i khai, tài liệu, chứng cứ, hay bấ t cứ ý kiến gì về việ c
chị M xin ly hôn. Các văn bản tố tụng của Tòa án đều được bố mẹ đẻ anh K
nhậ n và thông tin cho anh K , nhưng anh K không đế n tham gia tố tụ ng. Do vậy,
căn cứ theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.
Về quan hệ hôn nhân và yêu cầu giải quyết ly hôn: Chị Nguyễn Thị M
và anh Vi Văn K chung sống với nhau từ năm 2013, nhưng đến tháng 02 năm
2016, khi cả chị Nguyễn Thị M và anh Vi Văn K đã đủ tuổi kết hôn, hai anh chị
đã thực hiện việ c đăng ký kết hôn theo quy đị nh tại Ủy ban nhân dân xã H,
huyện H, tỉnh Lạng Sơn, do vậ y quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và
anh Vi Văn K là hôn nhân hợp pháp từ năm 2016. Quá trình chung sống và
nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị M khai đã đượ c gia đì nh a nh K xác nhậ n là đú ng, nguyên nhân mâu thuẫ n đượ c xá c đị nh là do bị đơn anh K không quan tâm đế n gia đì nh, vợ con, bỏ nhà đi lâu không về mặc dù đã được gia đình , bố mẹ gọ i, khuyên bả o nhưng không đượ c, do vậ y chị M đã về bên ngoạ i số ng từ đầ u năm 2018 đến nay anh K cũng không về nhà , không quan tâm đế n gia đì nh.Quá trình giải quyết vụ án , anh K không hợ p tá c , không tham gia tố tụ ng mặ c dù đã đượ c gia đì nh khuyên , gọi về nhưng cũng không về thể hiện anh K cũng không có thiện chí mong muốn đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị Nguyễ n Thị M và anh Vi Văn K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễ n Thị M, cho chị Nguyễ n Thị M đượ c ly hôn vớ i anhVi Văn K.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị M và anh Vi
Văn K có 02 người con chung là Vi Thị Hương T, sinh ngày 19/7/2014; Vi Hải Đ, sinh ngày 05/7/2016. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị M đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con không yêu cầu anh Vi Văn K cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu trên của chị M là tự nguyện , hơn nữ a anh K hiệ n chưa về nhà , không có mặ t tạ i phiên tò a mặ c dù đã đượ c gia đì nh thông bá o cụ thể về việ c ch ị M yêu cầ u ly hôn . Tại phiên tòa, ông Vi Văn D là bố để anh Vi Văn K có mặt có ý kiến yêu cầu được trực tiế p nuôi hai chá u là Vi Thị Hương T và Vi Hải Đ. Xét ông Vi Văn D và bà Ma Thị M là ông bà nội của hai chá u nhưng không có nghĩa vụ phải nuôi hai con chung của chị M và anh K. Việc chị Nguyễn Thị M đồng ý cho các con tiếp tục ở với ông Vi Văn D và bà Ma Thị M sẽ do chị Nguyễn Thị M và anh Vi Văn K quyết định nên đề nghị của ông Vi Văn D Hộ i đồ ng xé t xử không xem xét . Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyên Thị M, giao hai con là Vi Thị Hương T và Vi Hải Đ cho chị Nguyễ n Thị M trự c tiế p nuôi dưỡ ng , giáo dục. Anh Vi Văn K không phả i cấ p dưỡ ng nuôi con do chị M không yêu cầ u.
Tài sản chung và nợ chung : Chị Nguyễn Thị M xác định vợ chồng
không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phầ n giả i quyế t
nộ i dung vụ á n là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ
thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để sung Ngân sách nhà nước.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điề u 56, khoản 1 Điề u 57, Điề u 81 của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điề u 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điể m a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân : Chấp nhận yêu cầ u củ a chị Nguyễ n Thị M, cho
chị Nguyễ n Thị M đượ c ly hôn vớ i anh Vi Văn K. (Giấy chứng nhận kết hôn số
07/2016, đăng ký ngà y 18/02/2016 do Ủ y ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh
Lạng Sơn cấ p).
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Vi Thị Hương T, sinh ngày
19/7/2014 và Vi Hải Đ, sinh ngày 05/7/2016 cho chị Nguyễ n Thị M có trách
nhiệ m trượ c tiế p nuôi dưỡ ng , chăm só c, giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổ i.
Anh Vi Văn K không phả i cấ p dưỡ ng nuôi con và có quyề n và nghĩ a vụ thăm
nom con chung không ai đượ c ngăn cả n.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ
thẩm sung ngân sá ch Nhà nướ c . Số tiền án phí trên đượ c trừ và o số tiề n
300.000đ (ba trăm ngà n đồ ng ) tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị M đã nộp theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2016/0000090 ngày
30/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng , tỉnh Lạng Sơn, nay
chị Nguyễn Thị M không phả i nộ p tiế p nữ a.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M có mặt có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Vi Văn K vắng mặt có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND H.Hữu Lũng, T. Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. Hữu Lũng, T. Lạng Sơn; - UBND xã Hò a Thắ ng, Hữ u Lũ ng, Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Thanh |