vanban.org

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Nh và Anh Trần Văn Kh.

Về nuôi con chung: Giao con Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 07-12-2017 cho Chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nh xin ly hôn anh Kh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Nh và Anh Trần Văn Kh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST
Ngày 27-6-2019
V/v: Ly hôn giữa Chị Nh, anh
Kh.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Ngọc Phức 2. Ông Nguyễn Thế Phượng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lưu Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2019/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn Kh, sinh năm 1976 Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình

(Anh Kh xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07-8-2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Nh trình bày:

Về hôn nhân: Chị kết hôn với Anh Trần Văn Kh do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào tháng 6-2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình khong hợp, không bảo ban được nhau trong cuộc sống. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 8-2018 đến nay. Nay chị

- 1 -

xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Kh.

Về nuôi con chung: Chị và anh Kh có 01 con chung là Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 01-12-2017. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con, chị không yêu cầu anh Kh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về chia tài sản: Chị và anh Kh không có tài sản chung.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25-6-2019, bị đơn Anh Trần Văn Kh trình bày:

Về hôn nhân: Anh và Chị Nh kết hôn về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian như Chị Nh trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hòa thuận được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do, vợ chồng tính tình không hợp, không bảo ban được nhau trong cuộc sống. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 8-2018 đến nay. Nay Chị Nh khởi kiện ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và Chị Nh ly hôn.

Về nuôi con chung: Anh và Chị Nh có 01 con chung họ tên, ngày tháng năm sinh của con như Chị Nh trình bày là đúng. Hiện nay cháu H đang ở với Chị Nh. Anh đề nghị Tòa án giao cho Chị Nh tiếp tục nuôi cháu H, anh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng Chị Nh.

Về chia tài sản: Anh và Chị Nh không có tài sản chung.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, anh Kh, Chị Nh đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị xử cho Chị Nguyễn Thị Nh và Anh Trần Văn Kh ly hôn. Về nuôi con chung: Giao cho Chị Nh tiếp tục nuôi con Trần Thị Ngọc H, anh Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về chia tài sản: Chị Nh và anh Kh không có tài sản chung. Chị Nh phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- 2 -

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Nh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với Anh Trần Văn Kh. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Anh Kh đang cư trú tại Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Kh có mặt tại địa phương, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Kh, anh Kh không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có ý kiến xin vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Kh và hoãn phiên tòa do anh Kh vắng mặt lần đầu không có lý do theo đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh và Anh Trần Văn Kh kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 2018. Đâu là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 12 -2018 đến nay. Hội đồng xét xử thấy: Chị Nh, anh Kh đều xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho Chị Nh và anh Kh ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Nh và anh Kh có 01 con chung là Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 07-12-2017. Xét điều kiện nuôi con: từ khi vợ chồng sống ly thân tháng 8-2018 đến nay, Chị Nh là người trực tiếp nuôi con, Chị Nh nuôi con vẫn đảm bảo tốt quyền lợi mọi mặt của con, cháu H còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ. Anh Kh cũng nhường Chị Nh được nuôi dưỡng cháu H. Vì vậy, cần giao cho Chị Nh tiếp tục nuôi con, anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con cùng Chị Nh là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Chị Nh và anh Kh không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Nh phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- 3 -

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Nh và Anh Trần Văn Kh.

2. Về nuôi con chung: Giao con Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 07-12-2017 cho Chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ Chị Nh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005353 ngày 21-01-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà (Chị Nh đã nộp đủ).

4. Chị Nh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Kh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Cỡ chữ