- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ V và bị đơn anh Võ Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/HNGĐ - ST Ngày: 31/7/2019. “V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông LÊ VĂN ĐẸP
- Các Hội thẩm nhân dân 1/ Ông DANH ON
2/ Bà NGUYỄN THỊ HIỂU
- Thư ký phiên tòa: Bà THÁI KIM PHƯƠNG - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông DƯƠNG MINH KHA - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 72/2019/TLST–HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2019 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXXST–HNGĐ, ngày 28 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mỹ V, sinh năm 1979
Địa chỉ: ấp B, xã M, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
2. Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1981
Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị V vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2019 và tại biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2019 nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Võ Văn T có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vào ngày 13/01/2006. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không quan tâm, lo lắng cho gia đình và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 13 năm nay. Nay chị V nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn T.
Về quan hệ con chung: Chị V xác định trong quá trình chung sống, giũa chị và anh T có 01 người con chung là cháu Võ Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 30/12/2005. Hiện tại cháu Duyên đang sống chung với chị V. Chị V xác định tùy theo nguyện vọng của cháu Duyên muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho cháu Duyên.
Về tài sản chung: Chị V xác định giữa chị V và anh Võ Văn T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì.
Đối với bị đơn anh Võ Văn T: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh Võ Văn T nhưng anh T không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh T. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo qui định pháp luật do anh T không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phươg cũng xác định, anh T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh T có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ V được ly hôn anh Võ Văn T;
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Võ Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 30/12/2005 cho chị Phạm Thị Mỹ V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị V không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Duyên nên không đặt ra xem xét giải quyết;
3. Về quan hệ tài sản: Chị Phạm Thị Mỹ V không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Chị Phạm Thị Mỹ V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn T và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Võ Văn T có nơi đăng ký thường trú tại ấp T, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ V tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị V. Bị đơn anh Võ Văn T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Võ Văn T.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Võ Văn T có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh ngày 13/01/2006 nên quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị V xác định chị và anh T có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T thường hay nhậu nhẹt, không lo làm ăn và chị V không thể hàn gắn với anh T được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 13 năm nay. Nay chị V nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh đối với ông Phan Tấn L và ông Phan Văn Li. Theo đó, ông L, ông Li xác định giữa chị V và anh T có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 13 năm nay. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Phạm Thị Mỹ V được ly hôn anh Võ Văn T.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị V xác định giữa chị và anh Võ Văn T có 01 người con chung là cháu Võ Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 30/12/2005. Hiện tại cháu Duyên đang sống chung với chị V. Chị V xác định do cháu Duyên đã lớn nên tùy theo nguyện vọng của cháu Duyên muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho cháu Duyên. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Duyên hiện đang sống ổn định với chị V, bên cạnh đó, cháu Duyên có nguyện vọng được theo sống chung với chị V. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Võ Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 30/12/2005 cho chị V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị V không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Duyên nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về quan hệ tài sản: Chị Phạm Thị Mỹ V xác định giữa chị và anh Võ Văn T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Phạm Thị Mỹ V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ V.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ V được ly hôn anh Võ Văn T.
2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Võ Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 30/12/2005 cho chị Phạm Thị Mỹ V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Võ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Duyên nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
3/ Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Mỹ V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mỹ V phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị V đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006124 ngày 13/3/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) LÊ VĂN ĐẸP |