vanban.org

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh Nguyễn Thành D đối với chị Trần Thị Kim H.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thành D được ly hôn với chị Trần Thị Kim H. Về con chung: Giao anh Nguyễn Thành D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Trần Dĩ K, sinh ngày 10-9-2002; ghi nhận anh D không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Thành D khởi kiện ly hôn, giải quyết về con chung với chị Trần Thị Kim H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh Nguyễn Thành D đối với chị Trần Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 04-7-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Tự;

2. Ông Trần Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Nhã - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành D, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 8, Ấp A, xã B, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Kim H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ 8, Ấp A, xã B, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 02 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Thành D trình bày:

Anh và chị H tự nguyện chung sống từ năm 2000, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị H rời bỏ gia đình đi làm ở nước ngoài nhưng anh không biết cụ thể là nước nào; năm 2017, chị H có về làm giấy tờ rồi lại tiếp tục đi cho đến cuối năm 2018 mới về nhà. Quá trình chị H đi từ năm 2016 đến năm 2018, vợ chồng không liên lạc thường xuyên, anh không biết chị H đi đâu và làm gì. Từ khi về lại nhà cho đến nay, giữa anh và chị H thường xuyên cãi vã, gây gổ nhau. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài nên anh yêu cầu ly hôn với chị H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trần Dĩ K, sinh ngày 10-9-2002; hiện con đang sống cùng với anh. Nay ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Trần Thị Kim H: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị H từ chối nhận các văn bản tố tụng và vắng mặt không có lý do nên không có lời khai tại Tòa án.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; bị đơn vắng mặt không có lý do, từ chối tham gia tố tụng.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Thành D đối với chị Trần Thị Kim H; về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Dĩ K cho anh D nuôi dưỡng, ghi nhận anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết; về án phí: Anh D phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Anh Nguyễn Thành D khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với chị Trần Thị Kim H, chị H có địa chỉ cư trú tại Ấp A, xã B, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

1.2 Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H. Chị H không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thành D và chị Trần Thị Kim H tự nguyện chung sống từ năm 2000, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị H bỏ nhà đi từ năm 2016 đến đầu năm 2019 mới trở về, từ đó vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã nhau. Mặt khác, chị H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mà không có lý do, thể hiện việc chị H không mong muốn đoàn tụ với anh D.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D đối với chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trần Dĩ K, sinh ngày 10-9-2002. Nhận thấy, quá trình chị H không sinh sống tại địa phương, cháu K sống ổn định với anh D. Đồng thời, xét ý kiến của cháu K cũng có nguyện vọng sống cùng anh D. Do đó, giao cháu Nguyễn Trần Dĩ K cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở, ghi nhận anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh Nguyễn Thành D đối với chị Trần Thị Kim H.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thành D được ly hôn với chị Trần Thị Kim H.

Về con chung: Giao anh Nguyễn Thành D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Trần Dĩ K, sinh ngày 10-9-2002; ghi nhận anh D không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thành D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011422 ngày 22-02-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ