vanban.org

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Thanh P được ly hôn với anh Võ Phương L.

Về con chung: Giao cháu Võ Xuân N, sinh ngày 11/03/20xx và Võ Xuân T, sinh ngày 28/10/20xx cho chị Huỳnh Thị Thanh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Huỳnh Thị Thanh P ly hôn với anh Võ Phương L."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Thanh P được ly hôn với anh Võ Phương L.
  • Căn cứ chính? Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ SÊ
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 12 - 2019
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi
con chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đức Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nay H’Chim

2. Ông Siu Tơ Lul

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Hường, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đậu Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2019/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thanh P; Địa chỉ: Tổ dân phố xxx (nay là thôn k), thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Võ Phương L; Địa chỉ: Tổ dân phố xxx (nay là thôn k), thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 8 năm 2019, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại tòa án và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau khi tìm hiểu thì chị và anh Võ Phương L được sự đồng ý của hai bên gia đình đã tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 14/7/2008 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện C. Trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau, không khí trong gia đình nặng nề có đôi khi vợ chồng xảy ra xô xát. Anh L ít khi ở nhà, không chăm lo cho vợ con. Từ năm 2014 vợ chồng chị đã phát sinh mâu thuẫn nhưng chị nghĩ hai con còn nhỏ nên cố gắng nhẫn nhịn chịu đựng vì các con. Hiện chị không còn tình cảm với anh L. Chị và anh L đã không còn sống chung với nhau từ tháng 4 năm 2019 cho đến nay, chị đã suy nghĩ kỹ và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Phương L để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Võ Phương L có 02 con chung là cháu Võ Xuân N, sinh ngày 11/03/20xx và Võ Xuân T, sinh ngày 28/10/20xx. Chị yêu cầu được nuôi cả 02 cháu N và T vì hiện tại cả hai cháu đều là con gái và do chị trực tiếp nuôi dưỡng từ nhỏ cho đến nay. Thời gian đi lại, công việc và nơi ở của anh L không cố định. Do vậy chị yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và về nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Võ Phương L: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Võ Phương L đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay, anh L tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có sai phạm gì. Đối với bị đơn anh Võ Phương L vắng mặt không có lý do mặc dù đã được cán bộ Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo tham gia phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa hôm nay, anh Lân không tham gia phiên tòa thể hiện thái độ không hợp tác, không tôn trọng pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 36, 39, khoản 4 Điều 147 và 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Thanh P được ly hôn với anh Võ Phương L; Về con chung: Giao 02 cháu cháu Võ Xuân N, sinh ngày 11/03/20xx và Võ Xuân T, sinh ngày 28/10/20xx cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Về phần tài sản chung và nợ chung: Miễn xét; Về án phí: Buộc chị Huỳnh Thị Thanh P phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 15 tháng 8 năm 2019, chị Huỳnh Thị Thanh P nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Võ Phương L. Cùng với đơn khởi kiện chị P đã nộp kèm các tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, hợp pháp. Xét hình thức, nội dung đơn khởi kiện của chị P đầy đủ; Chị và anh L đều cư trú tại Tổ dân phố xx (nay là thôn K), thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Võ Phương L đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ 02 không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Phương L là đúng theo quy định của Pháp luật.

Về hôn nhân:

Chị Huỳnh Thị Thanh P và anh Võ Phương L có đăng ký kết hôn vào ngày 14/7/2008 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, trên cơ sở tự nguyện không ai cưỡng ép hay ép buộc, cho nên Hội đồng xét xử xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Chị P cho rằng vợ chồng sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã phát sinh từ năm 2014 cho đến nay, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau, không khí trong gia đình nặng nề có đôi khi vợ chồng xảy ra xô xát. Chị và anh L đã không còn sống chung với nhau từ tháng 4 năm 2019. Chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Phương L để mỗi người có cuộc sống riêng.

Do anh Võ Phương L không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh L đối với yêu cầu khởi kiện của chị P và cũng không thể làm rõ những mâu thuẫn hôn nhân của anh chị như lời chị P đã trình bày. Việc anh L vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm, không có ý thức hàn gắn những mâu thuẫn hôn nhân giữa anh Võ Phương L và chị Huỳnh Thị Thanh P. Mặt khác anh L và chị P đến nay đã không còn sống chung với nhau nữa.

Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, động viên chị P rút đơn khởi kiện để quay về đoàn tụ với anh L nhưng chị P kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn mặc dù vắng mặt anh L, với lý do vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn từ lâu, anh chị đã sống ly thân một thời gian dài, bản thân chị hiện không còn tình cảm với anh L. Do đó căn cứ vào Điều 51, 58 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Huỳnh Thị Thanh P được ly hôn với anh Võ Phương L.

Về con Chung:

Trong thời gian chung sống anh Võ Phương L và chị Huỳnh Thị Thanh P có 02 con chung là cháu Võ Xuân N, sinh ngày 11/03/20xx và Võ Xuân T, sinh ngày 28/10/20xx. Chị P có nguyện vọng nuôi cả 02 cháu N và T.

Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh L và chị P không sống chung với nhau thì 02 cháu N và T ở cùng mẹ đồng thời cháu N cũng có nguyện vọng ở với chị P đồng thời tình trạng cư trú của anh L tại địa phương không ổn định, anh L không có lời khai về việc nuôi con do đó để đảm bảo điều kiện sống ổn định và phát triển toàn diện cần giao cháu Võ Xuân N, sinh ngày 11/03/20XX và Võ Xuân T, sinh ngày 28/10/20XX cho chị Huỳnh Thị Thanh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh P không yêu cầu giải quyết nên nên Hội đồng xét xử miễn xét;

Về phần tài sản chung và nợ chung: Chị Huỳnh Thị Thanh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét;

Về án phí: Buộc chị Huỳnh Thị Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 36, 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 và 266 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Thanh P được ly hôn với anh Võ Phương L.

2. Về con chung:

Giao cháu Võ Xuân N, sinh ngày 11/03/20xx và Võ Xuân T, sinh ngày 28/10/20xx cho chị Huỳnh Thị Thanh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và về vay nợ: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Thanh P phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn để sung vào Công quỹ nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0002600 ngày 21/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Chị P đã nộp đủ tiền án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/12/2019), Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ