- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST Ngày 19-6-2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Nương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thái Văn Lộc.
Ông Hoàng Đình Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,
tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2019/TLST-HNGĐ
ngày 22 tháng 02 năm 2019 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2019 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1990 (Vắng mặt);
Cư trú tại: Số nhà A, ấp Sa Ng, xã An C, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Đặng Thành T, sinh năm 1994 (Vắng mặt);
Cư trú tại: Số nhà A, ấp Sa Ng, xã An C, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2019 lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên
đơn chị Nguyễn Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Thành T chung sống với nhau vào
năm 2017, Có tổ chức lễ cưới và đến ngày 10/02/2017 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An C, huyện CT, tỉnh Tây Ninh. Thời gian mới kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cãi vả thường X. Nguyên nhân là do anh T đi làm không đưa tiền cho chị sinh hoạt trong gia đình, anh T thường hay đi uống rượu, khi về chửi chị rất thậm tệ. Do đó, vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải mâu thuẫn. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng rất trầm trọng, tình cảm đã thực sự không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đặng Thành T đến
để giải quyết vụ án nhưng anh T đều vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến của anh.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh
Tây Ninh trình bày:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân
sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận cho
chị X và anh T được ly hôn. Ghi nhận con chung, không có; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Đặng Thành T là bị đơn, đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, chị Nguyễn Thị X là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt chị X, anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh T chung sống với nhau năm 2017,
có tổ chức lễ cưới và đến ngày 10/02/2017 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân
xã An Cơ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là quan hệ hôn nhân hợp
pháp, được pháp luật bảo vệ.
. Về mâu thuẫn của vợ chồng: Xét thấy quá trình sống chung, chị X và
anh T bất đồng quan điểm, thường cãi vả thường X. Anh T đi làm không đưa
tiền cho chị sinh hoạt trong gia đình, anh T thường hay đi uống rượu, khi về
chửi chị rất thậm tệ. Do đó, vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 3/2018 cho đến
nay, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải mâu thuẫn. Tòa án
đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc nên
không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị X.
. Quá trình thu thập chứng cứ có xác minh ý kiến của những người biết
việc, xác định mâu thuẫn vợ chồng như chị X trình bày là đúng. Anh T và chị X
ly thân từ tháng 03/2018 đến nay. Điều này vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa
vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ những
phần tích trên xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị X là có căn cứ nên Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu của chị là phù hợp Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014.
Về con chung: Vợ chồng chị X, anh T không có con chung nên không
đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T
không có ý kiến nên không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Chị X trình bày không có, anh T không có ý kiến nên
Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Do chị Nguyễn Thị X là nguyên đơn nên phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Anh Đặng Thành T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị
X đối với anh Đặng Thành T. Chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Đặng Thành T.
2. Về con chung: Không có, nên không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
đặt ra giải quyết;
4. Về nợ chung: Không có nên không có nên không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị X phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0019495 ngày 22/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thị X đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Kim Nƣơng |