- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mỹ Th và Võ Lưu N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: 1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ Th, về việc yêu cầu anh Võ Lưu N cấp dưỡng nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST Ngày 14-10-2019 V/v tranh chấp ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1-Ông Trần Ngọc Đổi
2-Ông Vòng A Ửng
- Thư ký phiên tòa: Ông Bá Văn Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Thông-Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019, về việc tranh chấp ly hôn và con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ Th, sinh năm 1990 (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Võ Lưu N, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn HT, xã HN, huyện BB, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn-Chị Trần Thị Mỹ Th trình bày: Sau thời gian tìm hiểu yêu thương nhau, được sự đồng ý của hai bên gia đình, chị và anh Võ Lưu N có đăng ký kết hôn tại UBND xã HN vào ngày 22/8/2012 và sau đó tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có chung với nhau hai đứa con tên Võ Trần Gia Hân (sinh ngày 22/01/2013) và Võ Trần Anh Duy (sinh ngày 27/8/2014), nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N không có trách nhiệm với gia đình, không lo đi làm ăn để nuôi con và giữa chị với anh N có quan N sống trái ngược nhau nên chị và anh N đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Võ Lưu N.
- Về con chung: Yêu cầu được nuôi hai con tên Võ Trần Gia H (sinh ngày 22/01/2013) và Võ Trần Anh D (sinh ngày 27/8/2014); yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.500.000 đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn-anh Võ Lưu N, Tòa án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập đến Tòa án để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh N cố tình không đến, nên Tòa án không thể lấy lời khai và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. *Tại phiên tòa: -Ki m sát viên đ nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: + Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Trần Thị Mỹ Th được ly hôn anh Võ Lưu N. + Về con chung: Giao hai con chung là Võ Trần Gia Hân (sinh ngày 22/01/2013) và Võ Trần Anh Duy (sinh ngày 27/8/2014) cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. -Nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ Th có ý kiến: Vẫn bảo lưu ý kiến như tại đơn khởi kiện và bản khai. Tuy nhiên, chị Th không yêu cầu anh Võ Lưu N cấp dưỡng nuôi con, vì anh N từ trước đến nay không có trách nhiệm với vợ con. Nếu sau này cần thiết chị sẽ yêu cầu anh N cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét yêu cầu và ý kiến của đương sự; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Võ Lưu N đến Tòa để lấy lời khai, hòa giải và tiến hành các thủ tục tố tụng khác, nhưng anh N không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy lời khai cũng như không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được, nên đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Võ Lưu N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Trần Thị Mỹ Th vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Võ Lưu N; Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh N đã trầm trọng, không thể hàn gắn được. Cụ thể là: Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, anh N và chị Th không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mặt khác, quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh Võ Lưu N không đến Tòa án để làm việc, điều này chứng tỏ anh N thiếu thiện chí và không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn tha thiết với cuộc sống hôn nhân với chị Trần Thị Mỹ Th. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ Th, như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều này cũng phù hợp với ý kiến của chính quyền địa phương, thể hiện tại buổi làm việc ngày 15/8/2019.
. Về con chung: Chị Trần Thị Mỹ Th yêu cầu được nuôi con. Đối với yêu cầu này, Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ khi vợ chồng chị Th, anh N sống ly thân đến nay, chị Th là người nuôi con, vẫn đảm bảo cho con có cuộc sống phát triển bình thường về thể chất cũng như về mặt tinh thần, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện chị Trần Thị Mỹ Th yêu cầu anh Võ Lưu N cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.500.000 đồng. Nay chị Th không yêu cầu anh Võ Lưu N cấp dưỡng nuôi con, với lý do là từ trước đến nay anh N không có trách nhiệm với vợ con. Nếu sau này cần thiết chị sẽ yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc chị Th rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ Th theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ai yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử: 1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ Th, về việc yêu cầu anh Võ Lưu N cấp dưỡng nuôi con. Nguyên đơn được quyền khởi kiện lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. 2-Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ Th đối với anh Võ Lưu N. 3-Về con chung: Giao 02 con tên Võ Trần Gia H (sinh ngày 22/01/2013) và Võ Trần Anh D (sinh ngày 27/8/2014) cho chị Trần Thị Mỹ Th tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Võ Lưu N không phải cấp dưỡng nuôi con (do chị Trần Thị Mỹ Th không yêu cầu). Anh Võ Lưu N được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. 4-Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ Th chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016149 ngày 03/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, chị Trần Thị Mỹ Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/10/2019); Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B.Bình; - THADS huyện B.Bình; - Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thanh Trúc Tuyền |