vanban.org

Bản án 32/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 04/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Anh T 05 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2017. Tuyên bố: Lim Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM ANH T, LIM VĂN L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TĨNH GIA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/HSST
Ngày: 04/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh và bà Dương Thị Hằng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Ngọc Trung - Kiểm sát viên

Ngày 04/4/2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2018/TLST-HS ngày 19/3/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2018/QĐXXST-HS ngày 22/3/2018 đối với các bị cáo:

1. Phạm Anh T - Sinh ngày: 15/10/1986; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khối B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Chiến T – Sinh năm 1957 và bà: Nguyễn Thị H (Đã chết); Vợ Dương Thị H - Sinh năm 1992; Chưa có con.

Tiền án:

- Ngày 17/8/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng";

- Ngày 25/01/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”;

- Ngày 18/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ”.

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 26/02/2003 bị Tòa phúc thẩm tại Hà Nội - Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 04 năm tù về tội “Hiếp dâm”;

- Ngày 30/6/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”;

- Ngày 10/02/2015 bị Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2017 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lim Văn L - Sinh ngày: 23/01/1989; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khối Tân Thịnh, thị trấn Tân Lạc, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do – Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Liêm Văn C (Đã chết); Con bà: Vi Thị L - Sinh năm 1963; Vợ: Hà Thị P - Sinh năm 1992; Có 01 con sinh năm 2013;

Tiền án: Ngày 25/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2017 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Minh A - Sinh năm: 1973

Địa chỉ: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An

2. Bùi Trung S - Sinh năm: 1973

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

3. Phạm Duy Kh - Sinh năm: 1983

Địa chỉ: Khối B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/12/2017, Phạm Anh T đi từ nhà ra Bệnh viện B ở phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội để khám bệnh. Sau khi khám bệnh xong T đi vào khu vực hẻm phía sau bệnh viện B mua 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá của một người đàn ông lạ mặt với giá 1.000.000 đồng, rồi đem về nhà trọ sử dụng. Sử dụng xong T vẫn thèm muốn và có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine, nhưng tại Thành phố Hà Nội không tìm được nơi mua, nên T gọi điện thoại cho Lim Văn L là bạn cùng quê với T bảo L đem ma túy ra thành phố Hà Nội để sử dụng.

Sáng ngày 25/12/2017, L đem ma túy tổng hợp dạng đá và ma túy Heroine từ Nghệ An ra thành phố Hà Nội gặp T và cả hai cùng sử dụng Heroine. Sau khi sử dụng ma túy xong, L bỏ ma túy vào người, rồi cùng T đi xe khách về thành phố V, tỉnh Nghệ An nhận chiếc xe ô tô biển kiểm soát 38A-05486 của anh Phạm Duy K (là anh trai của T nhờ T sửa chữa ở cửa hàng sửa chữa ô tô trước đó). Sau khi nhận xe, T lấy gói ma túy mua tại thành phố Hà Nội bỏ vào túi xách cá nhân của mình, rồi treo phía sau ghế lái, sau đó lái xe chở L đến thị xã T, tỉnh Nghệ An, rủ Nguyễn Minh A (là bạn của T) đi Hà Nội cùng T và L. Khi gặp A, T bảo A đi mua cóng thủy tinh và L là người đưa cho A 100.000đ để An đi mua cóng thủy tinh chế dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi A mua được bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá thì cả ba cùng lên xe đi thành phố Hà Nội. Khi cả 3 đi đến đoạn đường vắng thì dừng xe ô tô lại, đóng kín cửa, rồi L lấy ma túy tổng hợp dạng đá từ trong người ra bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đốt lửa làm cho ma túy bốc hơi rồi cùng với T và A sử dụng. Khi sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá xong thì T tiếp tục lái xe, còn L lấy ma túy Heroine và giấy bạc ra đốt sử dụng, sau đó đưa cho T và An sử dụng theo cách này.

Khi T lái xe đến Km380+800m đường Quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa thì bị Tổ công tác của Trạm cảnh sát giao thông Quảng Xương - Phòng Cảnh sát giao Công an tỉnh Thanh Hóa ra tín hiệu dừng phương tiện kiểm tra. Trong lúc kiểm tra, L cầm một gói nilong nhỏ màu trắng chứa các hạt tinh thể màu trắng ném ra khỏi xe thì bị Tổ công tác của Trạm cảnh sát giao thông phát hiện thu giữ. Tổ công tác kiểm tra bên trong xe ô tô phát hiện thu giữ: Một miếng giấy bạc đã tự đốt cháy có chấm đen và có bám dính chất bột màu vàng; Một hộp giấy màu vàng đen kích thước khoảng 4cm x 10cm đựng túi nilong màu trắng, bên trong túi chứa hai ống nhựa màu đen dài khoảng 4cm được bịt kín hai đầu, ống thứ nhất chứa chất bột màu trắng ngà, ống thứ hai chứa 13 viên nén hình tròn màu hồng; Một ống nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút màu trắng, 01 lỗ cắm ống thủy tinh có bám dính chất màu đen.

Tổ công tác của Trạm cảnh sát giao thông Quảng Xương - Phòng Cảnh sát giao Công an tỉnh Thanh Hóa lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó bàn giao hồ sơ và vật chứng cho Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời phối hợp cùng Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia kiểm tra phương tiện, thu giữ: 01 túi nilong màu xanh chứa 02 viên nén màu đỏ; 01 gói gấy bóng màu trắng dán kín chứa các hạt tinh thể màu trắng; 03 chiếc bật lửa đã qua sử dụng.

Ngày 26/12/2017, Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh T tại Khối B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, phát hiện và thu giữ các đồ vật sau: 01 ống nhựa màu trắng xanh (dạng ống hút) kích thước 2,5cm x 0,5cm, chứa chất bột màu hồng; 06 túi nilon màu trắng viền màu đỏ, kích thước 10cm x 16cm đều bám dính các hạt tinh thể màu trắng và 01 ống thủy tinh (dạng cóng) bám dính chất tinh thể màu nâu xám.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lim Văn L tại khối T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia không thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra xác định:

01 gói nilon nhỏ màu trắng chứa các hạt tinh thể màu trắng Lim Văn L ném ra khỏi xe thu giữ khi bắt quả tang; 01 miếng giấy bạc đã tự đốt cháy có chấm đen và có bám dính chất bột màu vàng thu giữ khi bắt quả tang; 01 hộp giấy màu vàng đen kích thước khoảng 4cm x 10cm đựng túi nilong màu trắng, bên trong túi chứa 02 ống nhựa màu đen dài khoảng 4cm được bịt kín hai đầu, ống thứ nhất chứa chất bột màu trắng ngà, ống thứ hai chứa 13 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ khi bắt quả tang; 01 ống nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút màu trắng, 01 lỗ cắm ống thủy tinh có bám dính chất màu đen thu giữ khi bắt quả tang và 01 túi nilong màu xanh chứa 02 viên nén màu đỏ thu giữ khi kiểm tra phương tiện là của Lim Văn L.

01 gói gấy bóng màu trắng dán kín chứa các hạt tinh thể màu trắng thu giữ trong túi xách cá nhân của Phạm Anh T tại phía sau ghế lái xe ô tô BKS 38A-05486 khi kiểm tra phương tiện; 01 ống nhựa màu trắng xanh (dạng ống hút) kích thước 2,5cm x 0,5cm, chứa chất bột màu hồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh T; 06 túi nilon màu trắng viền màu đỏ, kích thước 10cm x 16cm đều bám dính các hạt tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh T và 01 ống thủy tinh (dạng cóng) bám dính chất tinh thể màu nâu xám thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh T là của Phạm Anh T.

Quá trình điều tra, Phạm Anh T và Lim Văn L đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ của vụ án.

Tại Kết luận giám định số 142/MT-PC54 ngày 27/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng bên trong gói nilon nhỏ màu trắng Lim Văn L ném ra khỏi xe ô tô BKS 38A-05486 thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, có tổng trọng lượng 2,418g (Hai phẩy bốn một tám gam) loại Methamphetamine.

- Chất bột màu vàng bám dính trên miếng giấy bạc đã tự đốt cháy có chấm đen thu giữ trên xe ô tô BKS 38A-05486 khi bắt quả tang là ma túy, có trọng lượng 0,005g (Không phẩy không không năm gam) loại Heroine.

- Chất bột màu trắng ngà bên trong ống nhựa màu đen dài khoảng 04cm được bịt kín hai đầu đựng trong túi nilon màu trắng, đựng trong hộp giấy màu vàng đen kích thước khoảng 4cm x 10cm thu giữ trên xe ô tô BKS 38A-05486 khi bắt quả tang là ma túy, có trọng lượng 1,020g (Một phẩy không hai không gam) loại Heroine.

- 13 viên nén hình tròn màu hồng bên trong ống nhựa màu đen dài khoảng 04cm được bịt kín hai đầu đựng trong túi nilon màu trắng, đựng trong hộp giấy màu vàng đen kích thước khoảng 4cm x 10cm thu giữ trên xe ô tô BKS 38A-05486 khi bắt quả tang là ma túy, có tổng trọng lượng 1,304g (Một phẩy ba không bốn gam) loại Methamphetamine.

- Chất màu đen bám dính trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế bởi 01 ống nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắp ống hút màu trắng, 01 lỗ cắm ống thủy tinh thu giữ trên xe ô tô BKS 38A-05486 là ma túy, có trọng lượng 0,012g (Không phẩy không một hai gam) loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 148/MT-PC54 ngày 28/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:

- 02 viên nén màu đỏ trong túi nilon màu xanh thu giữ trên xe ô tô BKS 38A-05486 khi kiểm tra phương tiện là ma túy, có tổng trọng lượng 0,201g (Không phẩy hai không một gam) loại Methamphetamine.

- Các hạt tinh thể màu trắng trong gói giấy bóng màu trắng dán kín thu giữ trong túi xách cá nhân của Phạm Anh T tại phía sau ghế lái xe ô tô BKS 38A-05486 khi kiểm tra phương tiện là ma túy, có tổng trọng lượng 2,035g (Hai phẩy không ba năm gam) loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 160/MT-PC54 ngày 30/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:

- Chất bột màu hồng trong ống nhựa màu trắng xanh (dạng ống hút) kích thước 2,5cm x 0,5cm, thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh T là ma túy, có trọng lượng 0,004g (Không phẩy không không bốn gam) loại Methamphetamine.

- Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong 06 (sáu) túi nilon màu trắng viền màu đỏ, kích thước 10cm x 16cm thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh T là ma túy, có tổng trọng lượng 0,230g (Không phẩy hai ba không gam) loại Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu nâu xám bám dính trong ống thủy tinh (dạng cóng) thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Anh T là ma túy, có trọng lượng 0,045g (Không phẩy không bốn năm gam) loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKSTG-TH ngày 19/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia đã truy tố Phạm Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Lim Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Khoản 1, điểm p khoản 2 điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 41, Điều 53 và Điều 33 BLHS năm 1999. Điểm b khoản 1 điều 2 nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của quốc hội khóa 14; Khoản 3 điều 7, điểm c khoản 1 và điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị mức hình phạt Phạm Anh T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù và Lim Văn L từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy 5,613g chất ma túy loại Methamphetamine và 0,987g chất ma túy loại Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định; 01 ống nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút màu trắng, 01 lỗ cắm ống thủy tinh và 03 chiếc bật lửa đã qua sử dụng. Buộc hai bị cáo phải chịu tiền án phí HSST.

Hai bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa Phạm Anh T và Lim Văn L đã khai nhận: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 25/12/2017, tại Km380+800m đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Hòa Lâm, xã Trường Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác của Trạm cảnh sát giao thông Quảng Xương - Phòng Cảnh sát giao Công an tỉnh Thanh Hóa và Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia phát hiện Phạm Anh T và Lim Văn L đang tàng trữ trái phép 3,935 gam chất ma túy, loại Methamphetamine và 1,025 gam chất ma túy, loại Heroine trên xe ô tô biển kiểm soát 38A-05486.

Ngoài ra, Phạm Anh T còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,035 gam chất ma túy, loại Methamphetamine trong túi xách cá nhân của Phạm Anh T treo tại phía sau ghế lái xe ô tô BKS 38A-05486 và tàng trữ trái phép tại nơi ở của T 0,279 gam chất ma túy, loại Methamphetamine.

Như vậy, tổng trọng lượng ma túy mà Phạm Anh T tàng trữ trái phép là 6,249 gam chất ma túy, loại Methamphetamine và 1,025 gam chất ma túy loại Heroine; Lim Văn L tàng trữ trái phép là 3,935 gam chất ma túy loại Methamphetamine và 1,025 gam chất ma túy loại Heroine.

Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Lim Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai nhận của hai bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Phạm Anh T có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, hành vi của Lim Văn L có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xét tính chất vụ án: Hiện nay trên địa bàn huyện Tĩnh Gia nói riêng, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi của hai bị cáo đã làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho mỗi bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này hai bị cáo cùng nhau thực hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Nhưng sự đồng phạm mang tính giản đơn, không có sự phân công vai trò chặt trẽ. Do đó hai bị cáo không bị truy tố về phạm tội có tổ chức là hoàn toàn chính xác. Nhưng khi lượng hình cũng cần phải phân tích đánh giá vai trò của từng bị cáo. Đối với bị cáo T là người đã đã chủ động bảo bị cáo L mang ma túy ra Hà nội để cùng sử dụng. Do đó bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo L và phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo L.

Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:

+ Đối với Phạm Anh T: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và có nhân thân xấu. Bị cáo có ba tiền án, chưa được xóa án tích, do đó hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung hình phạt, nên khi lượng hình không áp dụng điểm g khoản 1 điều 48 BLHS năm 1999 làm tình tiết tăng nặng. Xét thấy cần thiết phải tuyên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

+ Đối với Lim Văn L: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo có một tiền án, chưa được xóa án tích. Do đó hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tái phạm, nên khi lượng hình cần phải áp dụng điểm g khoản 1 điều 48 BLHS làm tình tiết tăng nặng. Cần tuyên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa cả hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 2 nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của quốc hội khóa 14; Khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. Để áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội.

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại: Khoản 1 điều 194 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại: Khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Do đó cần phải áp dụng khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 để xử phạt đối với Lim Văn L là hoàn toàn chính xác.

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại: Khoản 2 điều 194 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù.

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại: Khoản 2 điều 249 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.

Do đó cần phải áp dụng khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 để xử phạt đối với Phạm Anh T là hoàn toàn chính xác.

+ Đối với Nguyễn Minh A là người mua cóng thủy tinh và lắp bộ dụng cụ cụ tự chế để sử dụng trái phép chất ma túy cùng với T và L. Tuy nhiên, T, L và A đều là người nghiện ma túy. Việc sử dụng ma túy của T, L và A là tự nguyện và trong quá trình sử dụng trái phép chất ma túy thì T là người cung cấp địa điểm (xe ô tô biển kiểm soát 38A-05486), L là người đưa tiền cho A mua dụng cụ sử dụng ma túy và cung cấp ma túy để mọi người sử dụng, còn A là người cung cấp dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó hành vi của T, L và A không cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Công an huyện Tĩnh Gia đã xử phạt vi phạm hành chính đối với T, L và A theo quy định tại khoản 1, điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.

+ Đối với hai người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho T tại khu vực Trung tâm Y tế huyện Q, tỉnh Nghệ An, tại khu vực Bệnh viện B và người đàn ông lạ mặt bán ma túy cho Lim Văn L tại khu vực biên giới giáp nước Lào thuộc huyện T, tỉnh Nghệ An: Quá trình điều tra chưa xác minh được tên, tuổi, địa chỉ của những người này, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tĩnh Gia sẽ tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

+ Đối với anh Phạm Duy K: Anh K không biết T sử dụng chiếc xe của anh để thực hiện hành vi phạm tội, nên hành vi của anh K không cấu thành tội phạm và Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia đã trả lại chiếc xe biển kiểm soát 38A-05486 cho anh K là đúng quy định của pháp luật.

Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.

Xét về vật chứng: Đối với 5,613g chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu giám định; 0,987g chất ma túy loại Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định; 01 ống nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút màu trắng, 01 lỗ cắm ống thủy tinh là các mẫu vật còn lại sau khi giám định và 03 chiếc bật lửa đã qua sử dụng.

Toàn bộ số ma túy trên là vật nhà nước cấm lưu hành, 01 ống nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút màu trắng, 01 lỗ cắm ống thủy tinh là các mẫu vật còn lại sau khi giám định và 03 chiếc bật lửa đã qua sử dụng, đều đã nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo phiếu nhập kho số NK2018/42 ngày 22/3/2018. Do đó cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999; Điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.

Xét về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm p khoản 2 điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 53 và Điều 33 BLHS năm 1999. Điểm b khoản 1 điều 2 nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của quốc hội khóa 14; Khoản 3 điều 7 và Điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015.

- Tuyên bố: Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Phạm Anh T 05 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2017.

2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 53 và Điều 33 BLHS năm 1999. Điểm b khoản 1 điều 2 nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của quốc hội khóa 14; Khoản 3 điều 7 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: Lim Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Lim Văn L 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2017.

- Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 5,613g chất ma túy loại Methamphetamine và 0,987g chất ma túy loại Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định; 01 ống nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút màu trắng, 01 lỗ cắm ống thủy tinh là các mẫu vật còn lại sau khi giám định và 03 chiếc bật lửa đã qua sử dụng. Hiện đang bị thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo phiếu nhập kho số NK2018/42 ngày 22/3/2018.

- Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bị cáo. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ