vanban.org

Bản án 32/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 02/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Hoàng Hùng A 07 (Bảy) năm tù.

Tịch thu tiêu hủy 01 Một) phong bì niêm phong ma túy số 667/GĐMT, Trả lại cho chị Lại Thị V, trú tại: Phường P, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 MoDel: A1586 kèm 01 sim, trả lại cho bị cáo Hoàng Hùng A số tiền 720.000đ (bảy trăm hai mươi nghìn đồng) và tịch t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Hùng A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luậ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Hoàng Hùng A 07 (Bảy) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/HSST
Ngày: 02 - 4 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Chính Nghĩa

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bàng Thị Hồng

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Lê - Cán bộ tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Tiến Dũng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 4 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2018/TLST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2018

–

3 năm 2018 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Hoàng Hùng A, Tên gọi khác: Không - Sinh ngày 23/10/1997, tại thành phố C, tỉnh Q

; Nơi ĐKHKTT: Phường P, thành phố C Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Hoàng Thanh D ,sinh năm 1971; Con bà: Lại Thị V, sinh năm 1975; Vợ và con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 17/10/2017, hiện tạm giam - Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: - Anh Đinh Quang H, sinh năm 2001; Trú tại: Phường D, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do – Vắng mặt.

- Nguyễn Quốc L: sinh năm 1995; Trú tại: Phường D, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do - Vắng mặt.

- Chị Lại Thị V, sinh năm 1975; Trú tại: Phường P, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân – Có mặt.

3./ Người làm chứng: Đinh Văn V, Lại Duy C –

.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 17/10/2017, tại phường T, thành phố C, Công an thành phố Cẩm Phả phát hiện Hoàng Hùng A có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quốc L. Vật chứng thu giữ trên tay trái của Hùng A gồm: 01 (một) túi Nilon chứa thực vật khô, thu trong túi quần trước bên phải 03 (ba) túi Nilon đều chứa thực vật khô, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, 01 xe mô tô HonDa Wave biển kiểm soát 14U1-178.99 và số tiền 720.000đ (bảy trăm hai mươi nghìn đồng)

cùng 01 điện thoại Viettel.

Tại bản kết luận giám định số 667/GĐMT ngày 21/10/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Thực vật khô thái nhỏ có trong 04 (bốn) túi Nilon thu giữ của Hoàng Hùng A gửi giám định là chất ma túy loại Cần sa, tổng trọng lượng là 5,57g (năm phẩy năm bảy gam).

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSCP ngày 07/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Hoàng Hùng A về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, đưa ra những chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ

khoản 2 Điều 194; Điểm s khoản1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt Hoàng Hùng A từ 07 (bảy năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt; Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau khi giám định; Trả lại cho bị cáo số tiền 720.000đ (bảy trăm hai mươi nghìn đồng) là tài sản riêng của bị cáo; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là vật chứng thu của Nguyễn Quốc L

sản do phạm tội mà có; Trả lại cho chị Lại Thị V chiếc điện thoại di động Iphone 6; Buộc bị cáo nộp lại ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tài sản do phạm tội mà có.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra và phiên toà bị cáo Hoàng Hùng A khai nhận: Hùng A sử dụng ma túy cần sa từ năm 2017. Từ tháng 9/2017, Hùng A quen biết Lại Duy C nhà ở phường T và biết C bán ma túy. Từ khi quen biết, Hùng A đã 02 lần mua ma túy của C để sử dụng và bán lại kiếm lời. Lần thứ nhất; Vào khoảng 18 giờ ngày 15/10/2017, Nguyễn Quốc L là bạn xã hội gọi điện thoại cho Hùng A hỏi mua 01 (một) túi cần sa giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) Hùng A đồng ý và hẹn đến ngã ba cọc sáu, phường P. Sau đó, Hùng A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14U1-178.99 đến nhà C mua được 02 túi ma túy cần sa với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Có được ma túy, Hùng A đi xe về quán nước đối diện nhà nghỉ Tuấn Tú, thuộc phường P, thành phố C. Trong khi đợi L đến, Hùng A bỏ 02 túi cần sa mua của C dồn vào 01 túi và sẻ ra một ít cất trong người để sử dụng sau. Khi L và Đinh Quang H đến, L đưa Hùng A 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Hùng A đưa L 01 túi cần sa. L cầm túi cần sa, lấy một ít trong túi đưa Hùng A rồi L và Hùng A cùng sử dụng hết ở quán nước. Khi L cầm túi cần sa còn lại cùng H đi về, Hùng A lại bỏ số ma túy cần sa đã sẻ ra từ túi cần sa vừa mới bán cho cho L để sử dụng hết.

Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 17/10/2017, L gọi điện thoại cho Hùng A hỏi mua một túi ma túy cần sa giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Hùng A đồng ý. Đến 18 giờ 45 phút cùng ngày, Hùng A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14U1-178.99 đến nhà C mua được 03 túi ma túy cần sa với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được cho thêm 01túi cần sa. Sau đó Hùng A đi đến khu vực gần nhà hàng Thiên Trang 2, thuộc phường T. Một lúc sau, L và Đinh Văn V đến điểm hẹn. L xuống xe đi đến chỗ Hùng A đứng. Hùng A lấy trong túi quần ra 01 túi cần sa đưa cho L thì bị Công an bắt giữ thu toàn bộ vật chứng.

Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Hùng A phù hợp với Biên bản kiểm tra, tạm giữ đồ vật tài liệu; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Quốc L và Đinh Quang H có lời khai phù hợp với lời khai của Hoàng Hùng A về việc ngày 15/10/2017, L và H góp được 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) rồi mua của Hùng A 01 túi cần sa giá 200.000đ đồng đem về sử dụng hết. Tiếp đến, ngày 17/10/2017, L và H góp được 200.000 đồng rồi đi nhờ xe của Đinh Văn V đến khu vực nhà hàng Thiên Trang 2, thuộc phường T để mua ma túy của Hùng A. Khi đến, L cầm tiền trên tay, còn Hùng A lấy trong túi quần ra 01 túi cần sa cầm trên tay đưa cho L thì bị Công an bắt giữ; Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với kết luận giám định số 667/GĐMT ngày 21/10/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh; Phù hợp với lời khai của người làm chứng là chị Lại Thị V về nguồn gốc chiếc xe bị cáo dùng làm phương tiện để đi mua ma túy

V

; Phù hợp với lời khai của người làm chứng là anh Đinh Văn V đã cho H, L đi nhờ xe mô tô và chứng kiến việc Công an kiểm tra, bắt giữ thu vật chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Việc Hoàng Hùng A vào ngày 15/10/2017 có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy loại cần sa cho Nguyễn Quốc L và Đinh Quang H với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để L và H sử dụng; tiếp đến, ngày 17/10/2017, Hoàng Hùng A có hành vi bán cho Nguyễn Quốc L và Đinh Quang H 5,57g (năm phẩy năm bảy gam) ma túy loại cần sa, bị công an phát hiện bắt giữ cùng với các chứng cứ đã nêu và các tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hoàng Hùng A phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đư-ợc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương và tiếp tay cho các đường dây mua bán trái phép chất ma tuý; Ma túy là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục và răn đe.

Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền

Về vật chứng: Lượng ma túy 5,03g (năm phẩy không ba gam) hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; Vật chứng vụ án là 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng MoDel: A1586 kèm 01 sim được xác định là của mẹ bị cáo là chị Lại Thị V. Chị V cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên trả lại cho chủ sở hữu là chị Lại Thị V; số tiền 720.000đ (bảy trăm hai mươi nghìn đồng) trong tổng số 920.000đ (chín trăm hai mươi nghìn đồng) là tài sản riêng nên trả lại cho bị cáo; Số tiền 200.000 đồng th L là tiền dùng để mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; Số tiền 200.000 đồng bị cáo bán ma túy vào ngày 15/10/2017 là tiền do phạm tội mà có nên truy thu nộp ngân sách Nhà nước. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon Da Wave biển kiểm soát 14U1-178.99 đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Lại Thị V nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Quốc L, Đinh Quang H có hành vi mua ma túy để sử dụng, nhưng trọng lượng ma túy chưa đủ xử lý hình sự, Công an thành phố Cẩm Phả đã ra quyết định xử phạt hành chính; Đối với Lại Duy C là người bán ma túy cho Hoàng Hùng A nhưng quá trình điều tra không đủ cơ sở kết luận nên không đề cập xử lý;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Hoàng Hùng A 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 17/10/2017.

Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 Một) phong bì niêm phong ma túy số 667/GĐMT, Trả lại cho chị Lại Thị V, trú tại: Phường P, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 MoDel: A1586 kèm 01 sim, trả lại cho bị cáo Hoàng Hùng A số tiền 720.000đ (bảy trăm hai mươi nghìn đồng) và tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 200.000 đồng trong tổng số 920.000 đồng, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 73/BB-THA ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại chi cục Thi hành án thành phố Cẩm Phả.

Buộc bị cáo Hoàng Hùng A phải nộp lại 200. nước.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, công khai có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ