- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị B Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi - phạm tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (điều 153 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Thị B, phạm tội: “Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI Bản án số: 32/2018/HSST Ngày: 27/11/2018 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG -TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Cảnh;
Nghề nghiệp, nơi công tác: Cán bộ hưu trí thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
2. Bà H Thị Quế;
Nghề nghiệp, nơi công tác: Phó phòng Giáo dục và đào tạo huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang tham gia phiên toà: Ông Vũ Hữu Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/11/2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kbang, Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2018/HS-ST ngày 17/8/2018 đối với bị cáo:
Đinh Thị B, tên gọi khác: B, N - Sinh năm 1999, tại xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú: Làng K, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai. Dân tộc: Bana; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không. Con ông Đinh Văn L (chết) và bà Đinh Thị X.
Bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 21/01/2018 đến ngày 30/01/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo bị truy nã, ra đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/11/2018 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại Đinh Thị Q (sinh ngày 28/9/ 2017): Chị Y, sinh ngày 13/3/2000;
Địa chỉ: Làng K, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Cao Thị Mi S, sinh năm 1985 – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai.
Có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1989 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai.
Có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị X, sinh năm 1957; Địa chỉ: Làng K, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng từ ngày 17/01/2018, Đinh Thị B bị đau bụng nên đến Trung tâm y tế huyện K điều trị nội trú, đến ngày 19/01/2018 B gặp và làm quen với chị Y là mẹ của cháu Đinh Thị Q - sinh ngày 28/9/2017 đang được điều trị bệnh viêm phổi tại Trung tâm y tế huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Trong đêm 19 rạng sáng ngày 20/01/2018 B đi từ Trung tâm y tế K đến công viên thị trấn K, khoảng 01 (một) giờ sáng ngày 20/01/2018 B nảy sinh ý định chiếm đoạt cháu Đinh Thị Q nên đã nhờ chị Hồ Thị L, địa chỉ Tổ dân phố a, thị trấn K là người bán cháo đêm tại góc công viên (ngã tư Q - L) gọi giùm xe taxi, chị L đã gọi ông Nguyễn Xuân T, địa chỉ tổ dân phố b, thị trấn K là tài xế xe Taxi để chở B, khoảng 5 phút sau ông T lái xe taxi đến ngã tư chở B vào cổng phụ Trung tâm y tế huyện K, B đến phòng điều trị thuộc khoa Nội - Nhi nơi ông Đinh Văn D, địa chỉ Làng K, xã Đ đang điều trị lấy giỏ xách đựng đồ trẻ sơ sinh mà B đã gửi trước đó do mẹ của B là bà Đinh Thị X đã mua chuẩn bị cho chị gái B sinh con, bà X giao cho B đưa về Làng K, B đem giỏ xách ra xe Taxi đưa cho ông T, xong B mượn điện thoại của ông Tương gọi điện cho anh Nông Văn H, địa chỉ thôn a, xã L là người yêu của B nhưng H không nghe máy, sau đó B đi vào Trung tâm y tế để bế cháu Q, một lúc sau B đi ra xe không mang theo cháu Q thì ông T hỏi B sao không bế con về thì B nói dối là mẹ không cho về, chờ mẹ ngủ mới bế được con. Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 20/01/2018 B tiếp tục đi vào phòng của mẹ con chị Y và cháu Đinh Thị Q đang ngủ, lợi dụng đêm khuya chị Y ngủ say, B đã bế cháu Q đi ra cổng phụ của Trung tâm y tế nơi mà xe Taxi của ông Tương đang chờ rồi nói ông Tương chở B về nhà H tại thôn d, xã L. Khi tới nhà H, B trả tiền xe Taxi 200.000 đồng cho ông T rồi bế cháu Q vào gọi cửa. Lúc này vợ chồng bà Bùi Thị G, ông Nông Văn N (cha, mẹ của H) đã mở cửa cho B vào nhà. Tại đây B đã nói dối bà G, ông N cháu Q là con của B với H mới sinh được ba tháng hiện bị đau phải đi bệnh viện. Ông N nghi ngờ cháu Q không phải con của B với H nên đã nói là phải xét nghiêm AND, nghe vậy B gật đầu, bà G trải nệm ở nền nhà cho B và cháu Q ngủ. Đến khoảng 06 giờ ngày 20/01/2018, B nói là bế cháu Q đi tìm H, bà G và ông N không đồng ý, lúc này anh Bàn Văn H - công an xã L đến nhà ông N làm việc hỏi chuyện cháu nhỏ thì B đã bế cháu Q đến nhà ông Võ Đức T tại thôn A, xã L rồi để cháu Q lại và bỏ trốn, anh H đã bế cháu Q từ nhà ông T và lại nhà bà G, đến 13 giờ cùng ngày B đến Công an huyện Kbang đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Nhận được tin báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kbang đã tiến hành xác minh truy tìm cháu Q, sáng ngày 20/01/2018 phối hợp công an xã Lơ Ku đã xác định cháu Đinh Thị Q tại nhà của bà Bùi Thị G, trú tại thôn a, xã L, huyện K, sau khi làm việc được biết Đinh Thị B đưa cháu Q đến nhà bà G vào lúc nửa đêm nói là cháu nội của bà và sau đó đã bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kbang cùng chính quyền địa phương đã tạm giữ cháu Q và giao trả lại cho cho chị Y đưa về Trung tâm y tế huyện K tiếp tục chăm sóc và điều trị.
Ngày 28/5/2018 theo yêu cầu của chị Y, B đã cùng gia đình bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị Y với số tiền là 7.000.000 đồng, chị Y đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số: 19/CTr-VKS ngày 17/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang đã truy tố Đinh Thị B về tội“Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 153 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Thị B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đinh Thị B phạm tội “Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi”. Đồng thời đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 153; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt Đinh Thị B từ 15 đến 18 tháng tù.
Xét hoàn cảnh bị cáo Đinh Thị B và gia đình có nhiều khó khăn nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh Thị B đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại Đinh Thị Q là chị Y số tiền là 7.000.000 đồng. Tại phiên tòa, chị Y trình bày đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm, nên không đề nghị HĐXX đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) giỏ đựng quần áo, tã, khăn, bình sữa, đồ dùng của trẻ sơ sinh là tài sản của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Xía nên đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bà Xía.
Về án phí: Bị cáo sinh sống ở xã đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm nên đề nghị HĐXX căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để tuyên miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Đinh Thị B.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo, bà Cao Thị Mi S trình bày:
Thống nhất về tội danh và Điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Nay người bào chữa nêu lên những tình tiết để HĐXX xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo:
Người bào chữa đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát xác định cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự ra đầu thú; đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận (7.000.000 đồng), tại phiên tòa, bị cáo và gia đình xin được bồi thường thêm cho bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống trong vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế; Bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, đây là lần đầu bị cáo phạm tội. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Khoản 1 Điều 153 của Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị.
Bị cáo sinh sống ở xã đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm nên đề nghị HĐXX miễn toàn bộ tiền án phí đối với bị cáo.
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại anh Nguyễn Thành T trình bày:
Thống nhất về tội danh, Điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.
Bị cáo Đinh Thị B đã có hành vi lợi dụng đêm khuya lúc Y đang ngủ say, cố ý bế cháu Q đi trái phép để chiếm giữ cháu Q làm xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ, chăm sóc và tự do thân thể của người dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù giam và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp.
Bị cáo và gia đình đã hai lần bồi thường thiệt hại về tổn thất cho gia đình bị hại (lần thứ hai gia đình bị hại không nhận) và tại phiên tòa xin được bồi thường thêm, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo trình bày là đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về với gia đình, xã hội và trở thành công dân tốt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kbang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Đinh Thị B có hộ khẩu thường trú tại Làng K, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai, trong thời gian nằm viện điều trị bệnh tại Trung tâm y tế huyện K, B đã làm quen với chị Y đang nuôi con nhỏ, vào khoảng 01 giờ 15 phút ngày 20/ 01/ 2018 B đã lợi dụng đêm khuya, khi chị Y đang ngủ say để bế cháu Đinh Thị Q ra khỏi Trung tâm y tế huyện K và thuê xe taxi chở về thôn d, xã L, huyện K, đưa vào nhà người yêu là Nông Văn H, sinh năm 1993 để nói dối với cha, mẹ của H là ông Nông Văn N và bà Bùi Thị G, cháu Đinh Thị Q là con của B với H mới sinh được 03 (ba) tháng bị đau phải đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện K. Mục đích của B là buộc ông N, bà G phải tổ chức đám cưới cho B và H. B đã lợi dụng đêm khuya lúc Y đang ngủ say, cố ý bế cháu Q đi trái phép để chiếm giữ cháu Q làm xâm phạm quyền được bảo vệ, chăm sóc và tự do thân thể của cháu Q. Hành vi đó của B đã phạm vào tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1, Điều 153 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng vì lý do bị cáo đã nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án đầy đủ nhưng không chấp hành nên Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Kbang đã ban hành Quyết định bắt bị cáo để tạm giam số 01/2018/HSST- QĐBTG, ngày 22/10/2018 của để phục vụ cho việc xét xử tại Tòa án nhưng bị cáo đã trốn và không bắt được bị cáo. Ngày 24/10/2018, Tòa án tiếp tục ban hành Quyết định tạm đình chỉ số 01/2018/HSST-QĐ và yêu cầu Cơ quan điều tra Công an huyện Kbang truy nã bị cáo, đến ngày 14/11/2018 bị cáo đã ra đầu thú.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận (7.000.000 đồng); tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu bị cáo phạm tội; bị cáo bị truy nã, nhưng đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để HĐXX cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt áp dụng đối với bị cáo.
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị hướng xử lý vụ án. Sau khi xem xét nhân thân của bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng: Đinh Thị B là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức hành vi cố ý chiếm giữ người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật. Song do động cơ cá nhân muốn dạt được mục đích của mình mà bị cáo đã có hành vi phạm tội như đã nói ở trên.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ, chăm sóc và tự do thân thể của người dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù giam nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài cộng đồng xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và nâng cao hiệu quả phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã tuyên, được quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đồi bổ sung năm 2017.
Xét hoàn cảnh các bị cáo Đinh Thị B và gia đình có nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Y là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận là 7.000.000 đồng do bị cáo B cùng gia đình đã bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, vì vậy HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) cái giỏ bằng nhựa, màu xanh, loại nắp lớn, có 02 quai xách, kích thước (46x31, 5x25) cm; 01 (một) đôi tất vải của trẻ sơ sinh, màu xanh; 20 (hai mươi) cái tã dùng cho trẻ sơ sinh, loại ca rô màu xanh – trắng; 06 (sáu) cái quần dài của trẻ sơ sinh; 01 (một) cái áo len của trẻ sơ sinh, màu vàng; 05 (năm) cái áo dài tay của trẻ sơ sinh; 01 (một) cái khăn tắm cao cấp ghi tên “Thanh Thanh”; 09 (chín) cái khăn vải (loại vải mùng), màu trắng; 01 (một) cái màn màu xanh được bọc ni lông bên ngoài có chiều dài là 80 cm; 01 (một) bình sữa dành cho trẻ sơ sinh, cao 14 cm, đường kính 05 cm; 01 (một) cái giá để treo đồ bằng nhựa, màu đỏ; 10 (mười) tấm chống thấm cho trẻ sơ sinh là của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị X nên HĐXX tuyên trả lại cho bà Xía.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Thị B là người đồng bào dân tộc thiểu số, hiện đang sinh sống trên địa bàn xã đặc biệt khó khăn, là đối tượng được miễn án phí và bị cáo đã có đơn miễn toàn bộ tiền nộp án phí Hình sự sơ thẩm. Do vậy, cần tuyên miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Thị B.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đinh Thị B, phạm tội: “Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi".
Áp dụng khoản 1 Điều 153; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo;
Xử phạt bị cáo Đinh Thị B 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 14/11/2018 và được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/01/2018 đến ngày 30/01/2018).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị X gồm: 01 (một) cái giỏ bằng nhựa, màu xanh, loại nắp lớn, có 02 quai xách, kích thước (46x31, 5x25) cm; 01 (một) đôi tất vải của trẻ sơ sinh màu xanh; 20 (hai mươi) cái tã dùng cho trẻ sơ sinh, loại ca rô màu xanh –trắng; 06 (sáu) cái quần dài của trẻ sơ sinh; 01 (một) cái áo len của trẻ sơ sinh, màu vàng; 05 (năm) cái áo dài tay của trẻ sơ sinh; 01 (một) cái khăn tắm cao cấp ghi tên “Thanh Thanh”; 09 (chín) cái khăn vải (loại vải mùng) màu trắng; 01 (một) cái màn màu xanh được bọc ni lông bên ngoài có chiều dài là 80 cm; 01 (một) bình sữa dành cho trẻ sơ sinh, cao 14 cm, đường kính 05 cm; 01 (một) cái giá để treo đồ bằng nhựa, màu đỏ; 10 (mười) tấm chống thấm cho trẻ sơ sinh.
(Đặc điểm cụ thể vật chứng nói trên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2018 giữa Công an huyện Kbang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Đinh Thị B được miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh. -VKSND huyện. -Công an huyện. -Bị cáo. -Người bào chữa; -Người đại diện hợp pháp của bị hại; -Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; -Người CQL, NVLQ; -Chi cục THADS huyện; (Khi án có HLPL). -Lưu HSVA,VPTA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa ĐỖ THỊ LÀNH TP. CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |