vanban.org

Bản án 32/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 29/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nơi cư T khối phố Phước Mỹ 2, TT Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp không có.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 05 (năm) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma Theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hs trần T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nơi cư T khối phố Phước Mỹ 2, TT Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp không có.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Mẫu số 27-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP
ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số 32 /2018/HSST
Ngày 29/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN - TỈNH QUẢNG NAM

-Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Min

Các hội thẩm nhân dân:

1-Ông Trịnh Sơn Hải.

2-Ông Nguyễn Thế Mạnh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Trần Ngọc Luông- Thư ký TAND huyện Duy Xuyên.

Đại Dện Viên kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 29/8/2018, tại trụ sở TAND huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xét xử sở thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2018/HSST ngày 25/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số 28/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2018 đối với:

-Bị cáo Trần T, sinh năm 1976 tại xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nơi cư T thôn L, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp nông; trình độ học vấn 3/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần D và bà Trần Thị C; có vợ là Nguyễn Thị K và 02 con; tiền sự không có; tiền án không có; nhân thân tốt; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư T. “có mặt”.

-Người bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1988, nơi cư T thôn L, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. “có mặt”.

-Những người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn T, sinh năm nơi cư T thôn L, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. “có mặt”.

Những người làm chứng:

Bà Phan Thị B, sinh năm 1962, nơi cư T thôn L, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. “có mặt”.

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, nơ cư T thôn L, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Dễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Được sự đồng ý của em ruột là bà Nguyễn Thị T, hơn một năm qua, ông Nguyễn T đã mở hàng rào lưới B40 của bà T làm lối đi để chở phân chuồng từ nhà ra bón cho đám khoai lang của mình. Tuy nhiên, Trần T là con rể của bà T không đồng ý việc làm này của ông T.

Khoảng 8h30 ngày 28/3/2018, nhìn thấy ông T kéo xe rùa chở phân chuồng ngang qua nhà bà T thì Trần T đã ngăn cản. Khi ông T kéo xe phân đến chuyến thứ ba thì T từ nhà chạy ra đẩy ông T và xe phân chuồng ngã xuống đất. Ông T quay về nhà kể sự việc bị T xô ngã cho vợ là bà Phan Thị B và các con là Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn L. Một lúc sau, ông T, bà B, bà Hẹ và ông L cùng qua nhà Trần T để hỏi chuyện. Tại nhà T, hai bên đã xảy ra cãi nhau. Ông T có dùng gạch ném vào chuồng bò của T. T lấy con dao có cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 15cm (loại dao Thái lan) đang dùng để sửa điện bỏ vào túi quần và bồng con nhỏ chạy ra sau nhà. Ông L đuổi theo T để hỏi nguyên nhân đánh ông T nhưng T không trả lời. Thấy ông L nhổ một cây cọc tre ở hành rào đám rau của mình nên T nói: “Nhổ cái hàng rào đó thì cũng không còn khoai mà ăn”. Nghe vậy, ông L cầm cây cọc tre chạy đến chỗ T đang đứng. T để cháu nhỏ xuống đất rồi lấy con dao đang bỏ trong túi quần cầm trên tay. Thấy T cầm dao, ông L lùi lại phía sau thì bị vấp ngã úp mặt xuông đất. T cầm dao chạy đến đâm một nhát trúng vào vùng mông của ông L. Sau khi đâm ông L, T vứt con dao tại đám khoai rồi bỏ chạy.

Tại Bản định giám thương tích số 125/CĐTT.18 ngày 05/4/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận tỷ lệ thương tích của ông Nguyễn Văn L là 03%.

Tại Bản Cáo trạng số 31/CT-VKSDX ngày 17/7/2018 VKSND huyện Duy Xuyên truy tố Trần T về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự , xử phạt Trần T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

-Ý kiến của người bị hại: Đề nghị xử lý nghiêm Trần T; về trách nhiệm dân sự, Trần T đã bồi thường 4.000.000đ, người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.

-Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không yêu cầu Trần T bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; phù hợp với Bản định giám thương tích số 125/CĐTT.18 ngày 05/4/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 28/3/2018 tại thôn L, xã D, giữa Trần T và gia đình ông Nguyễn T có xảy ra mâu thuẩn, Trần T đã dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng mông của ông Nguyễn Văn L gây thương tích 03%. Vì vậy, Bản Cáo trạng số 31/CT-VKSDX ngày 17/7/2018 VKSND huyện Duy Xuyên truy tố Trần T về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và hợp pháp.

Hành vi của Trần T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm để giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Tuy nhiên Trần T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông L; đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng những T tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Trần T có nhân thân tốt, có nơi cư T rõ ràng, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đảm bảo giáo dục, ren đe bị cáo, đồng thời đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên được miễn khấu trừ thu nhập.

–Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Trong quá trình điều tra, điều tra viên đã thực hiện các hành vi, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Về các vấn đề khác:

Về trách nhiệm dân sự: Giữa Trần T với ông Nguyễn Văn L và Nguyễn T đã thỏa thuận xong thiệt hại, ông L và ông T không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm con dao Trần T dùng để gây thương tích cho ông Nguyễn Văn L nhưng không có kết quả.

Án phí hình sự sơ thẩm, Trần T phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh:

Tuyên bố Trần T phạm tội “Cố ý gây thương tích cho người khác”.

- Về hình phạt:

-Căn cứ vào khoản 1 Điều 134; điểm b, i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Trần T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày giao Trần T cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát và giáo dục.

-Giao Trần T cho UBND xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

-Trường hợp Trần T thay đổi nơi cư T thì việc quản lý, giám sát và giáo dục được thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

-Về án phí hình sự sơ thẩm Trần T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng y).

-Bị cáo Trần T, ông Nguyễn Văn L và ông Nguyễn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/9/2018).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Duy Xuyên

- Chi cục THADS huyện Duy Xuyên

- Bị cáo, những người TGTT khác

- TAND tỉnh Quảng Nam

- VP công an huyện Duy Xuyên

- Lưu HS-AV

Nguyễn Công Min

Mẫu số 07-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng 9 năm 2017

của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN DUY XUYÊN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TỈNH QUẢNG NAM

–––––––––––––––

Duy Xuyên, ngày 28 Tháng 6. Năm 2018.

Số:13/2018/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN HUYỆN DUY XUYÊN-TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Min.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đình Lục và bà Hứa Thị Hoàng.

.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 28 tháng 6 năm 2018của Hội đồng xét xử sơ

thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Tạm giam bị cáo Nguyễn Hiếu, sinh năm 1979 tại TT Nam Phước,

huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nơi cư T khối phố Phước Mỹ 2, TT Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp không có.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 05 (năm) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

Theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) kể từ ngày tuyên án.

Điều 2: Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam có trách nhiệm thi hành

Quyết định này.

Cỡ chữ